Bạch Lạp

Bạn đánh giá: 1 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

TÊN KHÁC

Mật lạp, Phong trá, Phong lạp (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Sáp ong (Việt Nam).

MÔ TẢ:

Sáp ong được lấy từ những bánh sáp do ong thợ của các loài ong (Apis mellifica. Apis ligustica, Apis chinensis...) xây nên để chứa trứng và đựng thức ăn như phấn hoa, mật.

PHÂN BIỆT:

Sáp ong gọi là Mật lạp là chưa qua khâu sắc và luyện, sáp có màu Vàng gọi là Hoàng lạp. Sáp ong khi qua khâu sắc và luyện rồi thành màu trắng gọi là Bạch lạp. Bạch lạp là thứ tốt.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị ngọt béo, tính hơi ấm, không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Vị ngọt, hơi ấm, không độc (Trung Dược Đại Từ Điển).

SẢN ĐỊA:

Bạch lạp ở Tứ Xuyên gọi là Xuyên lạp, ở Vân Nam gọi là Vân lạp, chất lượng giống nhau, trong thuốc dùng ít hay dùng nhiều trong tạp hóa dùng làm nến... Ở Bắc Hải, Hải Khẩu có loại Hoàng lạp vì chất mật của nó chưa được trong, mùi thơm nên dễ bị sâu. Việt Nam còn phải nhập thêm Bạch lạp ở Trung Quốc.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Vào giữa mùa thu đông, cắt sáp ong rồi luyện qua, lọc bỏ trong nước, sau đó sáp kết tủa lại mà thành.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Sáp tốt có màu vàng trắng, đóng bánh và mềm như nến, không lẫn lộn tạp chất.

BÀO CHẾ

Cắt bánh cầu ong bằng bàn tay để trong hai lần vải màn, rồi để trong nồi nước đun. Sáp ong chảy, nổi trên mặt nước, bả giữ lại trong vải màn. Hiện nay người ta biến chế bằng phương tiện như sau: Sáp ong xếp thành lớp mỏng lên trên xơ mướp khô đã rửa sạch. Tất cả đặt trên 1 vỉ tre đan thưa trong nồi. Vỉ cách đáy nồi 15–20cm, nước đổ vào nồi cách vỉ chừng 10cm. Lấy vung đậy thật kín. Đun sôi hơi nước bốc lên làm sáp chảy thành giọt. Sáp qua lớp xơ mướp để lại cặn bẩn, tiếp tục đến khi không còn mảnh sáp trên xơ mướp là được. Sáp ong đóng bánh trên mặt nước thành một lớp vàng nhạt và sạch. Nếu có phương tiện như rây sắt hoặc đồng để lọc tạp chất thì chất lượng bảo đảm hơn dùng xơ mướp (Danh Từ Dược Học Đông Y).

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị Xích bạch đới, lỵ làm đau dây chằng, đau bụng dưới thắt đau, khi đi tức ở hậu môn, da xanh mét, dùng Hoàng lạp 9g, A giao 9g, hai vị đun cho chảy ra trộn thêm 15g bột Hoàng liên, quấy đều chia 4–5 lần uống, nếu đặc uống thêm 1 ít rượu nóng (Kim Quỹ Yếu Lược).
  • Trị nhiệt lỵ, sản hậu bị lỵ: Bạch lạp 9g, A giao 12g, Đương quy 10g, Hoàng liên 9g, Hoàng bá 4g, Trần thương mễ 6g. Trước hết nấu Trần thương mễ, lọc lấy nước, rồi dùng nước ấy sắc thuốc uống dần (Giao lạp thang – Thiên Kim Phương ).
  • Trị lỵ, ăn vào mửa ra ngay, già trẻ đều dùng được: Bạch lạp 15g, lòng đỏ trứng gà 1 cái, nửa chén rượu, tóc đốt cháy (Phát khôi) 6g, Hoàng liên (bột) 6g, mật ong tốt nửa chén, trước hết đun lên khuấy đều bỏ tóc cháy vào, khi gần đặc bỏ các thứ thuốc khác và bột Hoàng liên vào, khi nào đặc thành bột có thể viên lại được thì thôi, uống với nước (Hoa Đà Phương).
  • Trị bỏng lửa làm đau nhức, dùng dầu mè 120g, Đương quy 30g. Trước hết sắc lấy nước Quy, bỏ bã rồi bỏ 30g Bạch lạp vào quấy khi nguội, phết lên vải mỏng, đắp vào nơi đau. Cao này trị hút được mủ độc mau lên da non (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị Phế hư có ho, khó thở, mửa, khô họng, khát nước, thích uống lạnh, cơ thể suy nhược, hay sốt, kém ăn, nói yếu: Bạch lạp 320g nấu với nước cho kỹ xong lọc cặn bã, rồi viên thứ đã lọc 123 viên, dùng 120g Cáp phấn để làm áo bao bên ngoài, mỗi lần dùng 1 viên với nước quả Hồ đào, uống với nước nóng, xong nằm nghỉ để dưỡng sức (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị quáng gà do Can hư: Bạch lạp 30g, đun chảy, trộn với Cáp phấn 30g, nặn thành bánh bao, dùng dao cắt lấy một miếng chừng 6g, xẻ đôi, bỏ 60g gan heo và thuốc vào, buộc lại nấu trong nồi đất thật kỹ. Ngồi xông hơi bốc lên vào mắt, bánh nguội ăn hết dùng ngày 2 lần liên tục 4–5 lần (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

CHỦ TRỊ

TÁC DỤNG:

Cầm máu, sinh cơ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

CHỦ TRỊ:

  • Bạch lạp chuyên trị hạ lỵ, tiêu ra máu mủ, bổ trung, làm nên da non, ích khí không đói (Bản Kinh).
  • Trị tiêu chảy dạng thấp mủ trắng, vết thương mau lành, lợi cho trẻ con, uống lâu nhẹ người không đói (Biệt Lục).
  • Lên da non, cầm máu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

KIÊNG KỴ:

Lỵ do hỏa nhiệt: không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).

THAM KHẢO

  • Không có gì nhạt bằng sáp ong, chất dầy, vị ngọt, tính hoãn nên nhuận được tạng phủ. Chất mỏng, vị đạm, tính sáp nên trị được kiết lỵ (Bản Thảo Cương Mục).
  • Đàn bà có thai, bị động thai, máu ra không cầm, muốn chết: dùng sáp ong bằng quả trứng gà, đun sôi 3–5 lần, cho vào 1/2 lít rượu ngon, uống. Lập tức khỏi (Dược Tính Bản Thảo).
  • Sáp là thạch mật ngưng kết ở đáy tổ ong. Mật tính chậm, chất mềm, vì vậy nó chủ về việc nhuận tạng phủ, kinh lạc. Sáp ong tính sáp, có tính cố sáp, vì vậy có thể trị bệnh kiết lỵ lâu ngày, sau khi bị tiêu chảy, mót rặn ra mủ máu vậy. Sáp ong có vị ngọt, có thể ích huyết, bổ trung, vị ôn nên có thể làm thông hành kinh mạch, chủ về nối chỗ đứt do vết thương kim khí gây nên. Trung tiêu được bổ khí thì sẽ tự có ích, vì thế uống lâu ngày có thể không đói, nhẹ mình, lâu già vậy. Vị này trai gái, lớn nhỏ đều có thể dùng. Sách Biệt Lục nói vị này lợi tiểu là không đúng (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Sáp ong có tác dụng trị trĩ ra máu mủ (kết hợp với Nha đảm tử), ung nhọt (làm viên Phèn phi với sáp ong để uống), trị bỏng lửa (làm thuốc dán). Còn dùng làm tá dược cho thuốc cao, thuốc mỡ để dùng ngoài (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Hiện nay người ta tá dược thuốc đạn bằng dầu vừng (mè) sáp ong. Vì thuốc đạn là dạng thuốc rắn nhưng đặc điểm là chảy hay mềm ra ở nhiệt độ cơ thể, vì thuốc đạn phải đưa vào hậu môn. Thuốc đạn còn dùng để gây tác dụng tại chỗ, nhưng hiện nay trước kết quả nghiên cứu về sinh dược học thuốc đạn người ta dùng chủ yếu thuốc này đưa vào trực trường nhưng gây tác dụng toàn thân, nhất là khi người bệnh không uống được thuốc, dùng sáp ong 15 phần, dầu vừng 85 phần. Tất cả đun chảy, khuấy đều, khi đặt vào hậu môn bệnh nhân qua một đêm thì tan hoàn toàn. Có thể dùng dầu phộng trung tính thay dầu mè, thì viên thuốc đạn có màu trắng hơn. Có thể dùng các loại dầu thực vật khác. Nếu gặp sáp co nhiều tạp chất thì đun sáp chảy rồi đổ nước muối 5%, sáp đông lại rồi tạo chất lắng sang bên. Sau đó vớt sáp ra, cạo bỏ tạp chất (Tạp Chí Dược Học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search