Tam Lăng

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản thảo thập di

Tên khoa học: Seipus yagara Ohwi.

Họ khoa học: Cói (Cyperaceae)

MÔ TẢ

Tam lăng hình dùi tròn hoặc hình tròn trứng, dẹt, trên tròn, dưới nhọn, dài 2,3 – 4,9cm, đường kính 1,5 – 3,3cm. Mặt ngoài mầu trắng ngà hoặc vàng tro, nhân sần sùi, có vết dao cạo và nhiều chấm nhỏ vết của rễ tơ, sắp xếp gần thành vòng ngang, hai cạnh bên lồi lõm không đều. Chất cứng như gỗ, rất khó bẻ, mặt vết cắt thẳng, mầu trắng ngà hoặc trắng tro. Chỗ giáp giới vỏ ngoài mầu nhạt hơn, càng vào trong mầu tương đối đậm, giữa có rất nhiều điểm nhỏ, mạch gân không rõ lắm. Không mùi, vị nhạt, nhấm hơi có cảm giác cay, tê.

THÀNH PHẦN

  • Tinh dầu, chất bột (Trung dược học).
  • Tác dụng dược lý:
  • Tam lăng có tác dụng ức chế tế bào ung thư (Trung dược học).

TÍNH VỊ:

  • Vị đắng, tính bình, không độc (Khai bảo bản thảo).
  • Vị cay, dắng (Bản thảo diễn nghĩa bổ di).
  • Vị đắng, tính bình (Trung Dược Học).
  • Vị đắng, tính bình (Thực Dụng Trung Y Học).

QUY KINH:

  • Vào kinh Phế, Tỳ (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Vào kinh túc Quyết âm Can, túc Thái âm Tỳ (Bản thảo kinh sơ).
  • Vào kinh Can và Tỳ (Trung Dược Học).TRANG 2
  • Vào kinh Can, Tỳ (Thực Dụng Trung Y Học).

ĐỊA LÝ:

Đa số mọc hoang, chưa thấy nhiều ở Việt Nam, còn phải nhập.

BỘ PHẬN DÙNG:

Thân rễ gọi là củ, bề ngoài màu tro nhợt, mịn cứng chắc, không mốc mọt không xốp là thứ tốt. Còn có loại hắc tam lăng (Sparganium recemosum Huds) họ hắc Tam lăng (Sparganiaceae) hình nhọn hơn kinh Tam lăng, cũng dùng thay thế.

THU HÁI, SƠ CHẾ:
Vào mùa đông, xuân, đào hái về, cắt bỏ gốc rễ, rửa sạch đất, cạo lớp vỏ ngoài, phơi khô là được.

BÀO CHẾ:

Theo Trung Y:

Dùng Tam lăng phải nướng chín, làm thuốc tiêu tích thì tẩm dấm 1 ngày (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).

Thố Tam lăng: Rửa sạch, ngâm trong nồi nước sôi, đun sôi 5–6 phần 10. Thêm dấm (cứ 50kg Tam lăng, cần 15kg dấm), lại đun chín 8 phần 10 thì không thêm nước nữa, lúc này nước không nên còn nhiều, ngừng nấu, đậy kín vung để ủ cho mềm. Sau khi ngâm, lấy ra, phơi nắng cho vỏ ngoài không còn nước. Xắt thành
lát, phơi khô là được (Dược tài học).

Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ngâm nước lã một giờ đem ủ cho mềm, thái nhỏ, tẩm dấm hay rượu sao qua hoặc rửa sạch, ngâm dấm 1 đêm, thái lát sao qua dùng (Phương pháp bào chế đông dược).

BẢO QUẢN:

Dễ mốc mọt cần để chỗ khô ráo và kín, trước mùa đem phơi kỹ, khi bị chớm mốc mọt có thể sấy hơi diêm sinh.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị phụ nữ bế kinh do huyết ứ, bụng dưới đau tức, sau khi sinh huyết ứ, bụng đau: Tam lăng, Nga truật, Quán chúng, Tô mộc đều 8g, Đương quy 12g, Thục địa 16g, Hồng hoa, Huyết kiệt, Nhục quế, Mộc hương đều 6g. Sắc uống (Hòa huyết thông kinh thang – Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị bụng trên đau, hạ sườn đau tức, thực tích, đàm trệ, đàm kết, huyết trưng: Tam lăng, Nga truật đều 8g, Thanh bì, Trần bì, Bán hạ, Mạch nha đều 12g. Thêm dấm vào nấu khô, sao, tán bột. Trộn với dấm làm thành viên. Mỗi lần uống 10g, ngày 2 lần, với rượu ấm, trước bữa ăn (Tam lăng tiễn – Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị viêm gan siêu vi, lách to: Tam lăng, Miết giáp, Đương quy, Bạch thược đều 12g, Nhân trần, Kim ngân hoa đều 20g, Hồng hoa, Sài hồ đều 8g. Chế thành thuốc nước hoặc thuốc chích. Thuốc sắc mỗi ngày 2 lần – Thuốc chích bắp mỗi lần 2ml, ngày 1 lần. 30 ngày là một liệu trình (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị có thai ngoài tử cung: Tam lăng, Nga truật, Thủy điệt, Mẫu lệ (sống), Đơn sâm. Trị 25 ca thai ngoài tử cung. Kết quả 92% (Khoa sản bệnh viện số I, khu Long Nham. Tạp chí y dược Phúc Kiến 1981, 2: 23).
  • Trị ung thư gan: Dùng dịch tiêm Tam lăng, Nga truật 30%, 20 – 60ml mỗi ngày, chích tĩnh mạch. Hoặc dịch tiêm Tam lăng, Nga truật 50%, 20 – 40ml/ ngày, chích tĩnh mạch. Ngoài ra dùng thêm bài thuốc tán: Tam lăng, Nga truật, Thủy điệt, Ngọa lăng tử, Tô mộc, Hồng hoa, Nguyên hồ, Hương phụ, Mộc hương, Sa nhân, Trần bì, Bán hạ, Hậu phác, Chỉ thực, Đại hoàng, Mộc thông. Trị 30 ca ung thư gan. Kết quả: tốt 3, có kết quả 10, không kết quả 17, tỉ lệ 43,3%. Kết quả tốt đối với những ca thể thông thường và phát hiện sớm. Ít kết quả đối với ca muộn và xơ gan. Quá trình dùng thuốc không phát hiện biến chứng (Khoa ung thư bệnh viện trực thuộc số 1, viện y học Thẩm Dương, Phòng trị ung thư nghiên cứu tập san 1973, 1: 31).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Trị phụ nữ huyết mạch không đều, ngực bụng đau, trục thai, tiêu ác huyết, bổ lao, thông nguyệt kinh, trị khí chướng, tiêu ứ huyết, trị sản hậu đau bụng (Nhật Hoa tử bản thảo).
  • Hành khí phá huyết, tiêu tích, chỉ thống, thông kinh, làm thuốc tiêu, thuốc tán. Trị kinh bế thông kinh, sản hậu ứ trệ (Trung dược học).
  • Phá huyết, hành khí, tiêu tích, thông kinh. Trị kinh bế, thống kinh, bụng có thũng khối, sinh xong đau bụng do ứ huyết, ngực đau, bụng đau, thực tích, bụng trướng đau (Thực Dụng Trung Y Học).

KIÊNG KỴ:

  • Tỳ Vị hư yếu, không có thực tích thì kiêng dùng. Không dùng Tam lăng cho phụ nữ có thai, rong kinh (Trung Dược Học).
  • Tỳ Vị hư yếu, không có thực tích, có thai: không dùng (Thực Dụng Trung Y Học).

LIỀU DÙNG:

6 –12g.

THAM KHẢO

  • Tam lăng, về mặt huyết, có thể trị huyết, về mặt khí, có thể trị khí, các loại lão tích, trưng tích, tích tụ, không ngoài do huyết ứ, khí trệ, thực tích gây nên. Tam lăng có vị đắng, có thể tả, vị cay có thể tán, vị ngọt có thể hòa mà vào Tỳ. Huyết thuộc âm mà hữu hình, Tam lăng có thể trị các loại kiên tích, ngưng kết đình trệ hữu hình (Bản thảo kinh sơ).
  • Tam lăng khí vị đều nhạt, hơi có ít cay. Nga truật vị hơi đắng, khí hơi thơm, lại hơi cay, tính hơi ôn, là thuốc chủ yếu hóa ứ huyết, dùng trị huyền tích (nam), trưng hà, kinh nguyệt không thống (nữ). Tính của thuốc không mãnh liệt nhưng công tích thì nhanh. Tác dụng hành khí của Tam lăng có thể trị các chứng đau ngực, bụng, đau tức hạ sườn, tất cả các chứng huyết ngưng, khí trệ, nếu cùng dùng với Sâm, Truật, Kỳ, có thể giúp ăn tốt, điều hòa huyết, phân biệt kỹ hơn giữa 2 vị thì Tam lăng hóa huyết tốt hơn Nga truật, Nga truật lý khí tốt hơn Tam lăng (Y học trung trung tham tây lục).
  • Tác dụng chủ yếu của Tam lăng là hoạt huyết, khứ ứ. Lý Thời Trân nói: Tam lăng, phá khí, tán kết, gặp được Hương phụ thì tăng thêm sức mạnh. Thực ra, Hương phụ lấy hành khí làm chủ, Tam lăng lại lấy phá huyết làm đối tượng trị liệu. Vị này công dụng phá huyết kha mạnh lại kèm hành khí, thường dùng trị huyết ứ, tích khối. Gan lách sưng to, cơ tử cung bị trở ngại, có thai ngoài tử cung. Sao khô có thể giảm bớt tính mãnh liệt, sao với dấm có thể tăng cường tác dụng chỉ thống, khứ ứ. Thể hư thì nên phối với thuốc kiện Tỳ, bổ khí như Sâm, Truật (Thực Dụng
    Trung Y Dược).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search