Tam Thất

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản thảo cương mục

Tên khoa học: Panax pseudo ginseng (Burk).

Họ khoa học: Ngũ Gia Bì (Araliaceae).

TÊN KHÁC

Sơn tất, Kim bất hoán (Bản thảo cương mục), Huyết sâm (Y lâm toản yếu), Nhân sâm tam thất, Phật thủ sơn tất (Cương mục thập di), Sâm tam thất (Ngoại khoa chính trị), Điền tất, Điền tam thất (Ngụy dược điều biện), Điền thất (Lãnh Nam thái dược lục), Chân tam thất (Vân Nam dược chí), Bàn long thất (Tứ Xuyên dược chí).

MÔ TẢ

Cây thảo, sống lâu năm, cao độ 0,5m. Lá kép hình chân vịt, mọc vòng 3–4 lá một. Cuống lá dài 3–6cm, mỗi lá kép có từ 3–7 lá chét hình mác, mép có khía răng cưa nhỏ. Hoa tự tán, mọc ở đầu cành, tràng hoa màu xanh nhạt hay vàng lục. Có hoa đơn tính, lưỡng tính cùng trên một cây, 5 lá đài màu xanh, 5 cánh hoa màu xanh nhạt, 5 nhị, bầu hạ 2 ô. Quả mọng, hình thận, khi chín màu đỏ trong có 2–3 hạt hình cầu.

DƯỢC LÝ

  • Tác dụng cầm máu: Nước sắc uống của rễ Tam thất, bột Tam thất và dịch chiết nước Tam thất đều có tác dụng rút ngắn thời gian đông máu và thời gian Prothrombin có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu (Chinese Hebral Medicine), (theo Đoàn Thị Nhu, Vũ Thị Tâm và Nguyễn Thị Thọ, Thông báo dược liệu 1977, 4, 14-20, Hà Nội), rễ Tam thất có khả nàng kháng lại hiện tượng giảm Prothrombin trong máu thỏ và giảm khả năng máu đông gây thực nghiệm với Dicumarol (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).
  • Ảnh hưởng của thuốc đối với trung khu thần kinh: Loại Saponin Rg có tác dụng hưng phấn trung khu thần kinh, có tác dụng chống mệt mỏi, tăng khả năng lao động trí óc và chân tay, nhưng loại Saponin nhu Rb thì có tác dụng ức chế trung khu thần kinh biểu hiện an thần, gây ngủ. Bộ phận trên mặt đất của Tam thất như lá hoa có nhiều loại Saponin Rb nên tác dụng ức chế trung khu là chính, còn bộ phận rễ thì hưng phấn là chủ yếu. Tất cả các loại tổng Saponin của rễ cũng như tổng Saponin của lá sâm Tam thất đều có tác dụng giảm đau rõ rệt (Trung Dược Học).
  • Ảnh hưởng của thuốc đối với hệ tim mạch: Dịch tiêm Tam thất đối với chó gây mê có tác dụng hạ áp, làm chậm nhịp tim, tăng lưu lượng máu động mạch vành, giảm lực cản của động mạch vành. Tổng Saponin rễ Tam thất có tác dụng rõ rệt hạ huyết áp động mạch và giảm lực cản mạch máu ngoại vi, tăng lượng máu xuất của tim và làm chậm nhịp tim, giảm thấp lượng tiêu hao oxy của tim. Chất chiết xuất rễ nhung của Tam thất có tác dụng đối kháng các kích tố thùy sau tuyến yên (oxytoxin và vasopressin) và độ rung tim gây nên thiếu máu động mạch vành (Chinese Hebral Medicine).
  • Ảnh hưởng của thuốc đối với chuyển hóa: Bột Tam thất có tác dụng làm hạ Cholesterol, lượng Triglycerid trong máu. Saponin Tam thất C1 có tác dụng điều tiết hai chiều đối với Glycogen tổng hợp và phân giải. Tổng Saponin của Tam thất có tác dụng thúc đẩy quá trình tổng hợp Protein huyết thanh của gan, làm tăng hàm lượng cAMP và làm giảm hàm lượng cGMP của tế bào cơ tim chuột nhắt, do đó mà làm tàng rõ rệt tỷ lệ cAMP/cGMP nhưng Tam thất nếu được chế biến với nhiệt độ cao ngược lại làm tăng cao Cholesterol huyết thanh, Triglycerid, Beta–lipoprotein và làm giảm Alpha-lipoprotein (Trung Dược Học).
  • Ảnh hưởng đến chức năng miễn dịch: Cũng như Nhân sâm, sâm Tam thất có tác dụng làm hồi phục lại bình thường phản ứng miễn dịch quá thấp hoặc quá cao, không làm ảnh hưởng đến phản ứng miễn dịch bình thường của cơ thể (Trung Dược Học).
  • Độc tính của thuốc: Liều gây chết chích tĩnh mạch thỏ nhà của cao nước Tam thất là 2,5 – 3g/kg, chích ổ bụng đối với chuột to và chuột nhắt thì liều gây chết của mỗi loại chuột phân biệt là 0,5– 0,75/kg và 0,075 – 0,1/kg. Tổng Saponin tam thất tiêm dưới da chuột nhát, LD50: 1246mg/kg, tiêm tĩnh mạch cho chuột nhắt LD50: 628mg/kg, 3–5% có tác dụng dung huyết nhẹ, tiêm tĩnh mạch chó 1ml 5% dịch Tam thất/phút thì liều gây chết là 587–108ml/kg. Dùng bột Tam thất 15g/kg cho bơm vào dạ dày chuột nhắt không có tử vong, sau 2 tuần, làm sinh thiết tim, gan, thận, lá lách, dạ dày và ruột đều không thấy thay đổi (Chinese Hebral Medicine).
  • Một số kết quả nghiên cứu sâm Tam thất trên súc vật thí nghiệm của Đoàn Thị Nhu và cộng sự tại Hà Nội (Việt Nam) (Thông báo Dược liệu 1977, 4, 14-20, Hà Nội) (3):
    • (1) Rễ Tam thất làm tăng khả năng hoạt động của súc vật thể hiện kéo dài thời gian của lô chuột thử thuốc so với lô đối chứng.
    • (2) Thuốc có tác dụng làm tăng sức đề kháng của súc vật đối với yếu tố độc hại như liều độc Uabain với tim, nhiệt độ môi trường xung quanh quá cao hoặc quá thấp vượt ngoài giới hạn điều hòa của cơ thể.
    • (3) Thuốc Tam thất khác với Nhân sâm là không có tác dụng gây tàng huyết áp.
    • (4) Đối với tác dụng nội tiết:
      • a) Rễ Tam thất thí nghiệm trên chuột cống cái non với liều 5g/kg, uống trong 6
        ngày đã làm tăng trọng lượng tử cung một cách có ý nghĩa so với lô chứng, chứng tỏ thuốc có tác dụng hướng sinh dục trên súc vật cái.
      • b) Rễ Tam thất thí nghiệm trên chuột đực nhỏ với liều 5g/kg, uống trong 6 ngày, không làm thay đổi một cách có ý nghĩa trọng lượng tinh hoàn và tuyến tiền liệt so với chuột đối chứng, chứng tỏ Tam thất không có tác dụng hướng sinh dục đối với vật đực với liều này.
      • c) So sánh hoạt tính gây động dục của rễ Tam thất có độ tuổi khác nhau, các tác giả có nhận xét là rễ Tam thất 5 năm có hoạt tính gây động đục mạnh hơn hai lần rễ Tam thất 3 năm.
      • d) Nghiên cứu tác dụng gây động dục của lá và rễ phụ so sánh với rễ củ Tam thất thì thấy lá Tam thất có hoạt tính yếu hơn khoảng 20 lần và rễ phụ có hoạt tính yếu hơn khoảng 8–10 lần so với rễ củ Tam thất 5 năm.
  • Tác dụng tiêu viêm: Nước sắc Tam thất có tác dụng chống viêm đối với chuột cống gây viêm khớp thực nghiệm (ảnh hưởng của nước sắc Tam thất đối với viêm khớp thực nghiệm, Dược học học báo 12 (7): 446-451, 1965) (7). Nước ngâm kiệt Tam thất trên ống nghiệm có tác dụng ức chế nhiều loại nấm ngoài da (Tạp chí Bệnh ngoài da Trung Hoa, (4): 288-292, 1957).

TÍNH VỊ:

  • Vị ngọt, hơi đắng, tính ôn (Bản thảo cương mục).
  • Vị đắng, hơi ngọt, tính bình (Bản thảo hối ngôn).
  • Vị ngọt, khí ôn (Bản thảo chính).
  • Vị đắng, hơi ngọt, tính ấm (Trung dược học).

QUY KINH:

  • Vào kinh Can, Vị, kiêm vào kinh Tâm, Đại trường (Bản thảo cầu chân).TRANG 4
  • Vào kinh Phế Thận (Bản thảo tái tân).
  • Vào 2 kinh Can và Vị (Trung dược học).

ĐỊA LÝ:

Trồng ở vùng núi cao (trên 100m) thuộc các tỉnh Hà Tuyên, Hoàng Liên Sơn.

BỘ PHẬN DÙNG:

  • Củ. Củ Tam thất mọc hoang ở rừng núi (loại to 85 củ = 1kg, nhỏ cũng được 102 củ = 1kg), cứng nặng đen, thịt xanh xám, chỗ cắt mịn thì tốt, còn thịt trắng vàng là kém, thứ Tam thất gây trồng thì bé hơn, thứ da nhẵn, ít đắng thì kém phẩm chất.
  • Không nhầm với củ Nga truật (Curcuma zedoaria Roscoe họ Gừng) thường làm Tam thất giả và cũng đừng nhầm với Thổ tam thất (Gynura sgetum (Lour) Merr, họ Cúc), củ to hơn, da ngoài vàng xám, ít đắng. Có người nói lấy bột Tam thất cho vào máu vừa mới đặc mà máu tan ra thì đúng là Tam thất.

BÀO CHẾ:

  • Theo Trung Y: Mùa nắng hoặc mùa đông, đào lấy củ đem về rửa sạch, phơi khô khi dùng thái lát, tán bột (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Theo kinh nghiệm Việt Nam: Có thể dùng tươi, rửa sạch, giã đắp lên vết thương. Rửa sạch, phơi khô, khi dùng tán bột hoặc mài với nước mà uống, không dùng sắc và không sao tẩm gì. Rửa kỹ bằng bàn chải, để ráo, ủ rượu cho mềm, bào phiến mỏng, sấy nhẹ cho khô đựng trong lọ kín, khi dùng hãm riêng rồi hòa vào chén thuốc đã sắc tới cho uống. Có người rửa kỹ để ráo, ủ rượu 3 giờ cho mềm, thái mỏng sao qua (vi sao), tán bột để dùng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).

BẢO QUẢN:

Cần tránh mọt, sao chế rồi đậy kín nên dùng ngay.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

Trị sản hậu huyết ra nhiều: Tam thất, nhai nát, uống với nước cơm (Tam Thất Tán – Tần Hồ Tập Giản Phương).

Triệu chứng lâm sàng:

  • l) Trị các chúng xuất huyết:
    • a.- Dùng dịch tiêm sâm Tam thất trị xuất huyết đường tiêu hóa trên 110 ca, hiệu quả tốt hơn 50 ca đối chiếu dùng Tây y. Số bệnh nhân bao gồm loét hành tá tràng 113 ca, viêm dạ dày mãn 19 ca, loét dạ dày 6 ca, loét hỗn hợp 4 ca, 18 ca chưa phát hiện bệnh lý. Tổ điều trị dùng dịch tiêm Tam thất do Xí nghiệp 1 Thượng Hải sản xuất (2ml/ống, hàm lượng 1g thuốc sống) (8–16ml), thêm vào dung dịch Gluco đẳng trương 500ml truyền tĩnh mạch ngày 1 lần, không dùng các loại thuốc cầm máu khác. Tổ đối chiếu 50 ca dùng Vitamin K và các loại thuốc cầm máu khác thêm vào dịch Gluco đẳng trương, lượng và truyền như trên. Kết quả: Tổ dùng Tam thất: máu trong phân âm tính bình quân sau 5,98 ngày, thời gian nằm viện trung bình là 15,2 ngày, tổ Tây y, máu trong phân chuyển âm tính bình quân sau 9,12 ngày và thời gian nằm viện trung bình 21,64 ngày (P nhỏ hơn 0,02, có ý nghĩa thống kê) (Phạm Xương Háo và cộng sự, Báo cáo 110 ca xuất huyết đường tiêu hóa trên trị bằng dịch tiêm Tam thất, Tạp chí Trung Y dược Thượng Hải 1983, 9: 15).
    • b. Trị xuất huyết bao tử: Dùng bột Tam thất, mỗi lần 1,5 x 3 lần/ngày, uống với nước ấm, bệnh nhân nghỉ tại giường trường hợp nôn máu, còn thì ăn bình thường, chế độ lỏng hoặc bán lỏng, sau khi máu phân âm tính còn uống thuốc thêm 2 ngày để củng cố. Kết quả 60 ca chảy máu khỏi hoàn toàn 58 ca, không khỏi 2 ca (La Dụ Dân, Bột điền thất trị xuất huyết bao tử, tạp chí Trung y Vân Nam 1985, 1: 28).
  • Trị loét dạ dày chảy máu cấp lượng nhiều: Hòa bột Tam thất 10g vào 30–50ml nước muối sinh lý, cứ mỗi 6–8 giờ bơm vào dạ dày 1 lần, kẹp ống trong 1 giờ, rồi hút dịch dạ dày cho đến khi dịch không còn máu tươi, lưu ống ngoài dạ dày 2–3 ngày, sau đó tiếp tục cho uống bột Tam thất mỗi lần 10g, 3–5 lần. Thời gian hết máu tươi trong dịch dạ dày từ 12 giờ (ngắn nhất) đến 96 giờ (dài nhất), bình quân 55,33 giờ, sắc phân trở lại bình thường 2–8 ngày, bình quân 3,83 ngày. Tác giả trị 6 ca, trừ 1 ca đã hết chảy máu và chết sau 5 ngày do viêm phổi và nhiễm trùng huyết, còn tất cả đểu khỏi (Dương Quốc Phong, Trị dạ dày chảy máu cấp do loét, Thực dụng ngoại khoa tạp chí 1982, 4: 90).
  • Trị ho ra máu: Bột Tam thất, mỗi lần uống 6–9g, ngày 2–3 lần, trị giãn phế quản, lao phổi và ápxe phổi kèm ho ra máu. 10 ca uống thuốc 5 ngày, cầm máu, trong đó hoàn toàn cầm máu 8 ca, còn 2 ca cầm máu được 1 – 2 tuần lại ho ra máu ít (Trịnh Hỉ Văn, Sơ bộ quan sát bột Tam thất trị ho ra máu, tạp chí Trung Y 1965, 11: 29).
  • Trị tiểu ra máu: Trị 39 ca bệnh nhân tiểu ra máu, mỗi 4–8 giờ uống bột Tam thất 0,9–1,5g, đa số bệnh nhân sau khi dùng thuốc trên dưới 3 ngày hết tiểu ra máu (khoa Tiết niệu ngoại Bệnh viện số 1 Cáp Nhĩ Tân, Quan sát lâm sàng bột Tam thất trị tiểu ra máu, báo Đại học Y Cáp Nhĩ Tân 1974, 7 (2): 51).
  • Trị xuất huyết nhãn tiền phòng: Do chấn thương nhãn tiền phòng xuất huyết 21 ca, trường hợp xuất huyết nhẹ, nhỏ mắt 2% dịch Tam thất, ngày 6 lần, trường hợp xuất huyết nhiều, ngoài việc nhỏ mắt dùng thêm phương pháp thẩm thấu Ion 10% dịch Tam thất ngày 1 lần, mỗi lần 20 phút. Kết quả: trừ 1 ca xuất huyết lâu ngày teo cũng mạc không kết quả, 1 ca do xuất huyết giác mạc nhuộm máu kết quả không rõ, còn lại vài ngày sau hết, thị lực hồi phục nhanh (Trạm bảo vệ sức khỏe xưởng điện cơ Thượng Hải, Dịch Tam thất trị xuất huyết nhãn tiền phòng, Y học Thượng Hải, 1978, 3: 16).
  • Trị chấn thương sọ não: Cho uống bột Tam thất 3g (hôn mê cho xông qua mũi), ngày 2–3 lần, theo dõi trị 40 ca, có kết quả 75%, đối với thể nhẹ và vừa, kết quả tốt, ý thức hồi phục nhanh, triệu chứng thần kinh và cảm giác chủ quan được cải thiện, nước não tủy trong nhanh, lưu lượng máu, lực cản mạch máu não và phù não đều được cải thiện. Thời gian dùng thuốc 3–10 ngày dài nhất là 21 ngày, trường hợp nặng dùng thêm thuốc lợi tiểu, trụ sinh, an thần... (Khoa Ngoại thần kinh Bệnh viện thực hành số 1 thuộc y học viện Quảng Tây, Quan sát kết quả điều trị 40 ca chấn thương sọ não điều trị bằng Tam tất. Báo Tân y học 1979, 10 (7): 330).
  • Trị bệnh mạch vành:
    • a.- Dùng Tam thất quan tâm ninh (chiết xuất từ Tam thất) trong 28 bệnh viện của 7 tỉnh đã tổng kết 828 ca bệnh mạch vành mỗi ngày uống 0,6–1,2g, 778 ca đau thắt ngực có kết quả 70,2% kết quả rõ rệt 20,1% (trong số liệu trình từ 4 đến 6 tháng, tỷ lệ kết quả 82,7%, 625 ca kiểm tra (điện tâm đồ có kết quả 34,8%, kết quả rõ rệt 14,2% (Phóng viên báo Trung thảo dược ghi báo cáo đại Hội nghị toàn quốc tại Côn Minh về kiểm định bài thuốc 'Tam thất quan tâm ninh', báo Trung thảo dược 1980, 11 (10): 439).
    • b.- Phức phương tam thất quan tâm phiến: Tam thất 0,8g, Diên hồ sách 4g, Hồng hoa, Chế thủ ô, Kê huyết đằng, mỗi thứ 12g, Một dược 2g. Chia 3 lần uống. 30 ngày là một liệu trình, dùng trị 1–2 liệu trình, nhận thấy kết quả: 68 ca đau thắt tim (127 lần), tỷ lệ kết quả 88,2%, trước khi dùng thuốc có 52 ca đã dùng Nitroglycerin, sau khi điều trị bằng Phức phương tam thất có 78,1% không dùng hoặc giảm liều. Tỷ lệ có kết quả điện tâm đồ 26,7% (Tổ phòng trị bệnh mạch vành, Tổng y viện Giải phóng quân nhân dân Trung Quốc, Quan sát kết quả điều trị bệnh mạch vành bằng “Quan tâm phiến” 68 ca, tạp chí Tân y dược học 1973, 10: 12).
  • Trị tăng Lipit huyết: Tác giả dùng bột Tam thất sống cho uống 0,6g/mỗi lần x 3 lần/ngày, trị 10 ca huyết áp cao, bệnh mạch vành, xơ mỡ mạch não kèm theo Lipit máu và Cholesterol cao đã phát hiện Lipit máu và Cholesterol đều giảm. Cho uống liên tục 1 tháng, Lipit huyết bình quân từ 1179,2 mg% xuống còn 718,4 mg%, Cholesterol từ 272,6 mg% xuống còn 185 mg% (Trương Côn, tác dụng của sinh Tam thất đối với hạ Lipit và Cholesterol máu, tạp chí Tân Y DƯỢC học 1973, 10: 18).
  • Trị bệnh gan: Tác giả cho bệnh nhân gan mật và những bệnh nhân không rõ nguyên nhân 45 caTRANG 7 có SGPT tăng cao uống bột Tam thất 1g/lần, ngày 3 lần liên tục trong một tháng, có 44 ca có SGPT hạ bình thường trong đó có 1 ca viêm gan mãn có Protit huyết tương được cải thiện (Trương Côn, tác dụng hạ SGPT và cải thiện Protit huyết tương của bột sâm Tam thất, Trung Y tạp chí, 1980, 5: 25).
  • Dùng dịch tiêm Tam thất trị viêm gan mãn 5 ca thể huyết ứ, chích với liều lượng khác nhau; chích bắp hoặc tĩnh mạch, mỗi ngày 1 ống (1 ống 2ml có 1g thuốc sống) có 25 ca, chích 2 ống 34 ca, chích 3 ống 6 ca, 1 lần/1 ngày, một liệu trình 3–4 tháng. Kết quả tốt 47 ca, có chuyển biến 5 ca, không kết quả 13 ca, tỷ lệ kết quả 80,0% (Thiện Minh và cộng sự, Tiêm dịch Tam thất trị viêm gan mãn thể huyết ứ, Thượng Hải Trung y dược tạp chí 1983, 8: 12).
  • Giới thiệu một số kinh nghiệm dùng Tam thất trị bệnh:
    • a. Trị té ngã chảy máu trong và ngoài da, có ứ huyết đau: cho uống bột Tam thất 4g với nước cơm hoặc uống với 30–40ml rượu trắng, ngoài xoa bột Tam thất 2g, phối hợp với Long cốt nung, Ngũ bội tử mỗi thứ 15–20g.
    • b. Trị thổ huyết, ho ra máu: dùng bài An Huyết Ẩm (bột Tam thất 4 g, Bạch cập 16g, nước củ sen 1 chén con 5–10ml), Bạch mao căn 30g, Mẫu lệ 20g, Đại hoàng chế 8g sắc uống.
    • c. Trị loét dạ dày, đau nhiều: dùng bột Tam thất 3–4g uống.
    • d. Trị băng lậu, kinh nguyệt ra nhiều, có huyết cục, dùng Tam thất kết hợp Ngũ vị tử, Nhục quế, Đơn bì, Xích thược.
    • e. Trị cơn đau thắt ngực: dùng bột Nhân sâm và sâm Tam thất, mỗi thứ 2g, hòa nước uống. Thuốc bột 2–8g/1 lần, cấp có thể dùng 4–5 lần/ngày.

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Tán ứ, sinh tân chỉ huyết. Trị thổ huyết, băng huyết, lỵ ra huyết, ứ huyết do tổn thương (dùng tươi) (Trung dược học).
  • Chỉ huyết, hành huyết, tiêu sưng, khỏi đau. Uống trong trị thổ huyết, chảy máu cam, băng huyết, đại tiện ra huyết. Dùng ngoài cầm máu các vết thương, bị té ngã tổn thương (Đông dược học thiết yếu).

KIÊNG KỴ:

  • Năng tổn ứ huyết, không có ứ huyết: không dùng (Bản thảo tùng tân).
  • Huyết hư, thổ huyết, huyết nhiệt vọng hành: cấm dùng (Đắc phối bản thảo).
  • Người huyết hư, không có ứ huyết thì không dùng (Trung Dược Học).
  • Huyết hư, không có ứ huyết thì cần thận trọng khi dùng (Đông dược học thiết yếu).TRANG 8
  • Có thai cấm dùng (Quảng Tây Trung thảo dược).

LIỀU DÙNG:

Ngày dùng 4 – 6g.

THAM KHẢO

Tam thất cầm máu, thu miệng nhọt, như sơn có khả năng gắn chặt, là thuốc quan trọng trị vết thương do kim khí gây nên. Bị té ngã, đánh đập, tổn thương... máu chảy nhiều, nhai nhỏ hoặc giả nát đắp vào, chỗ ứ huyết sẽ tan ngay (Đông dược học thiết yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search