TÊN KHÁC
Thích tật lê, Đông tật lê, Quỷ kiến sầu, Thất lợi, Tật lê (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Gai ma vương, gai sầu, Quỷ kiến sầu, Quỷ kiến sầu nhỏ, Gai trống, Gai yết hầu, cây Gai chống (Việt Nam).
MÔ TẢ:
Cây thảo sống hàng năm hay hai năm, nằm sát mặt đất. Lá chét lông chim có 5–7 lá chét, các lá chét bằng nhau, thuôn có mũi, mặt dưới phiến lá phủ lông trắng sát, dai như tơ, lá kèm hình mũi mác. Hoa mọc đơn độc màu vàng, cuống hoa có lông trắng, cứng và ở mép lá có lông mi. Tràng 5 sớm rụng, cánh hoa mỏng nhẵn. Đĩa mặt mỏng có 10 thùy. Nhị 10, chỉ nhị hình chỉ, bao phấn thuôn. Bầu phủ các lông nâu cứng. Đầu nhụy cụt, hình chóp, quả rất thay đổi, thường có hình 5 cạnh, nhẵn hoặc có lông, phủ nhiều gai. Ra hoa vào cuối xuân và đầu hạ.
PHÂN BIỆT:
Cần phân biệt với cây Quỷ kiến sầu to (Tribulus cistodes L) cũng mọc ở duyên hải đất khô như trên mặt đất, thân có cạnh, có lông. Lá kép dài 3–5cm, lá phụ có lông trắng, nằm ở mặt dưới, lá bẹ thon, có lông. Hoa cô độc vàng, to, dài có lông, cánh hoa cao 1–2cm, 10 tiểu nhụy, noãn sào có lông. Nang có gai chẻ hai.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị cay, đắng, tính ấm Để sống tính bình, sao tính ấm.
- Vị cay, đắng, tính ấm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Can và Phế (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Vào kinh Can (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐỊA LÝ:
Mọc hoang ở ven biển, ven sông các tỉnh Bình Trị Thiên, các tỉnh miền nam Việt Nam.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Dùng quả chín phơi.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Quả Bạch tật lê đến lúc tách ra thành từng quả con. Quả con hình tam giác, màu trắng vàng ngà, vỏ cứng dầy có gai. Thứ khô, to, chắc, không lẫn tạp chất lá tốt.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hoạch vào tháng 8–9, khi quả chín, đào cả cây hay cắt lấy phần trên cây về phơi khô, dùng gậy cứng đập lấy những quả già. Thường dùng hoặc sao cho cháy gai, sàng sảy sạch cháy, tán nhỏ để dùng. Chọn thứ trắng vàng nâu, nặng là tốt.
TÊN GỌI:
Vì quả có gai giẫm phải thường sinh ra thối thịt như bị ma quỷ phá nên mới gọi là gai Ma vương, Thích tật lê.
BÀO CHẾ
- Bỏ vào nồi chõ, đồ trong 8 tiếng, phơi khô, bỏ vào cối giã hết gai, lại tẩm rượu, đồ 3 tiếng, phơi khô dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Bất cứ cho vào thang thuốc hay hoàn tán đều sao, giã vụn nát rồi sàng sẩy bỏ gai dùng (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Theo kinh nghiệm Việt Nam:
- Sao cháy gai rồi giã, sàng sẩy bỏ hết gai dùng.
- Bỏ vào nước rửa sạch, vớt bỏ tạp chất và hột lép nổi lên, mang vào sao vàng cho gai dòn rồi bỏ vào cối, chà xát vào lòng cối cho hết gai. Khi dùng giã giập hoặc tán bột dùng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị mắt đỏ, đau, chảy nước mắt nhiều: Bạch tật lê, Cúc hoa, Mạn kinh tử, Thảo quyết minh, Liên kiều, Chích cam thảo. Tán bột, sắc, uống nóng (Bạch tật lê tán – Trương Thị Y Thông).
- Trị đau mắt, mờ mắt, ngứa hay chảy nước mắt: bên trong uống Bạch tật lê 12g, Bạch cúc hoa 9g, sắc 3 chén còn 2 chén chia 2 lần sáng tối (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị lở ngứa ngoài da: Bạch tật lê 9g, Kinh giới 6g, Thổ phục linh 6g, Ý dĩ 3g, Thương nhĩ tử 3g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị kinh nguyệt không đều, hành kinh đau bụng: Bạch tật lê 9g, Đương quy 9g sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Khư phong, minh mục, sơ Can, giải uất, trừ thấp. Can dương vượng, nhức đầu chóng mặt, Can uất khí trệ, hông sườn không thư thái, ngứa toàn thân, sưng đỏ mắt (Trung Dược Học).
- Tán Can uất, điều lý Can khí. Trị mắt đau, ung nhọt ở vú, đau lan đến ngực sườn (Đông dược học thiết yếu).
CÁCH DÙNG:
Trị phong thì để cả gai không sao, dùng để bổ thì bỏ gai sao với rượu.
Liều dùng: 3–9g.
KIÊNG KỴ:
Người huyết hư khí yếu không dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển). Người hư nhược vùng thượng tiêu, không có thực tà kết tụ: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
THAM KHẢO
- Tật lê là thuốc trị phong và trị ứ huyết, cũng có tác dụng bổ thận bổ can nhưng các bài thuốc bổ ít thì dùng đến phần nhiều để dùng trị lở ngứa (Bách Hợp).
- Bạch tật lê mầu trắng mà có gai, hay thông, hay phá, đối với vùng ngực, sườn khó chịu hoặc đau do Can uất, Can khí gây nên, dùng Bạch tật lê rất thích hợp. Đồng tật lê mầu tía mà không có gai, hay về bổ Thận, tư âm, đối với người do Thận suy, âm hư sinh ra lưng đau, gối mỏi, chân yếu, dùng vị thuốc này cũng thích hợp (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Thích tật lê và Sa uyển tật lê (Đồng tật lê) cùng tên mà khác vị. Sách Thần Nông Bản Thảo không có sự phân biệt, đến đời nhà Tống mới thấy đề cập đến Bạch tật lê. Đến Lý Thời Trân mới nêu rõ về Thích tật lê như nhánh nhỏ 3 cạnh, 4 đài. Sa uyển tật lê trông giống như hình quả thận của con dê. Cả hai cũng có tác dụng khác nhau: Thích tật lê có tác dụng bình Can, tán phong, hành huyết, minh mục. Còn Sa uyển tật lê vị ngọt, tính ôn, lại là thuốc ôn bổ Can Thận, trị di tinh, tảo tinh, tiết tinh, tiểu nhiều, đái dầm, đới hạ... (Thực Dụng Trung Y Học).


