Băng Phiến

Bạn đánh giá: 3 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

TÊN KHÁC

Yết bà la hương (Bản Thảo Diễn Nghĩa), Bà luật hương (Gia Hựu Bản Thảo Đồ Kinh), Mễ não, Phiến não, tốc não, Kim cước não, Thương long não (Bản Thảo Cương Mục), Cao hương, Não tử, Hư phạn, Nguyên từ lặc, Cổ bất bà luận (Hoà Hán Dược Khảo), Long não hương, Mai phiến, Mai hoa băng phiến (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Long não (Dược Liệu Việt Nam).

MÔ TẢ

Băng phiến có thể do 3 nguồn gốc:

  • Chế bằng phương pháp tổng hợp hoá học.
  • Chế từ cây Long não hương (Dryobalanops aromatica gaertn) họ Dipterocarpaceae. Cây này không thấy ở Việt Nam.
  • Chế từ cây Đại bi, Từ bi (Blumea balsamifera (L) Dc) thuộc họ Asteraceae, đó là cây thảo mập cao khoảng 2m. Thân phân cành ở phía ngọn, nhiều lông lá hình trứng dài, mép lá có thể có răng cưa hay nguyên, có nhiều lông ở cả hai mặt phiến. Cuống lá cũng có lông, cũng có khi kèm theo những lá nhỏ hình chỉ. Đầu họp thành ngù ở nách hay ở ngọn, có lông. Trong đầu có nhiều dãy hoa cái ở xung quanh, còn phần giữa là hoa lưỡng tính. Lông có màu gỉ sắt. Tràng hoa cái hình ống có 3 răng, tràng hoa lưỡng tính hình trụ, 5 răng. Nhị 5 bầu hình trụ hơi có lông quả bế có lông. Ra hoa vào tháng 4–5, có quả vào tháng 7–8.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị cay đắng, tính hơi lạnh, nhập Kinh tâm, Tỳ Phế (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vị cay, đắng, tính hơi hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

Vào kinh Phế, Tâm, Can (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ:

Cây mọc hoang khắp nơi trong nước ta, từ rừng núi đến đồng bằng, thường có ở rừng núi đã phát quang, hiếm thấy ở trong rừng sâu.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Chất tinh đặc cắt lấy từ lá và búp cây đại bì.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Dùng thể kết tinh sau khi luyện thành, bởi nhựa cây long não, thành phẩm dạng phiến hình đa góc, hoặc hình hạt thóc hình trắng nhạt, trắng, mùi thơm cay mát đặc biệt, hạt thô lớn như hạt lúa mạch. Gọi là Đại mai phiến thì màu trắng hơn bóng mượt. Nhị mai phiến nhỏ hơn Đại mai phiến. Tương tự Tam mai phiến, Tứ mai phiến sắc hơi xám trắng, thể hiện dạng hạt thóc, khí vị kém hơn. Ngoài ra có một loại Cơ mai phiến là tinh chế phẩm của Chương não đặc biệt là nồng nặc, phẩm chất kém hơn, khác với Long não, Băng phiến.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Lá có thể thu hái quanh năm, nhưng tốt nhất vào mùa hè, lấy về rửa sạch phơi khô. Khi cắt để lấy Mai hoa băng phiến cần chọn vào mùa thu đông vì mùa này cây có nhiều Băng phiến.

TÊN GỌI:

Vị thuốc có mầu trắng như băng mà làm thành phiến, vì vậy gọi là Băng phiến. Mai hoa băng phiến tinh chế gồm Bocneol là một chất có tinh thể óng ánh và trắng như hoa mai nên có tên là Mai hoa băng phiến.

BÀO CHẾ:

Thường người ta chế Băng phiến bằng nồi cất thủ công gồm 1 nồi đáy thường có thể dùng bằng nồi thổi cơm cũng được, một cái chõ, trên để thau hay chảo làm lạnh. Cho lá và cành Đại bi đâm nhỏ vào nồi, thêm nước vào cho ngập lá, chét kín chõ và thau, sau đó đun nhẹ, giữ cho lửa nhỏ trong vòng 3–4 giờ, mai hoa băng phiến thăng hoa lên sẽ bám vào đáy thau, cạo ép cho hết dầu và tinh chế. Muốn tinh chế Mai hoa băng phiến, trộn Băng phiến thô với than củi, theo tỷ lệ 100 phần Băng phiến thô, thêm 5 phần than củi, 3 phần vôi bột, cho hỗn hợp này vào một nồi gang nhỏ, trên nồi gang đặt 1 cái chõ, đậy vung, chét kín. Đun nhẹ, Băng phiến sẽ thăng hoa lên, bám vào thành chõ, cạo lấy là được. Tỷ lệ Băng phiến thu được thường là 0,3–0,5%.

BẢO QUẢN:

Đậy trong lọ thuỷ tinh thật kín, thuốc dễ bay hơi.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị mụn đỏ nổi trên mũi (tửu tra tỵ): Não tử, trộn sữa bôi nhiều lần (Phổ Tế Phương).
  • Trị đầu não đau nhức: Phiến não 3g, cuộn vào giấy, đốt lên, lấy lửa xông vào mũi, sau đó nôn ra đờm nhớt là bớt (Thọ Thành Phương).
  • Trị họng sưng đau do nhiệt: Đăng tâm 3g, Hoàng nghiệt 1,5g, đốt tồn tính. Bạch phàn 2,1g nung qua, Băng phiến não 0,6g, tán bột mỗi lần lấy 0,3–0,6g thổi vào nơi đau (Tần Hồ Tập Giản Phương).
  • Trị bệnh đỏ mũi: dùng Phiến não điểm vào thì tự khỏi (Tập Giản Phương).
  • Trị đau nhức răng: Mai hoa não, Chu sa tán bột, mỗi thứ 1 chút bôi vào là khỏi ngay (Tập Giản Phương).
  • Trị thương hàn thè lưỡi dài ra: Mai hoa băng phiến 1,5g, tán bột xức vào (Hồng Mại Di Kiên Trí phương).
  • Trị nội nhọt: Phiến não 0,3–0,6g, hoà với nước hành bôi vào (Giản Tiện phương).
  • Trị trúng phong kinh giản, lạnh tay lạnh chân, hôn mê: Ngưu hoàng, Uất kim, Tê giác, Hoàng cầm, Hoàng liên, Hùng hoàng, Sơn chi, Chu sa, đều 30g, Băng phiến, Xạ hương đều 4,5g, Trân châu 1,5g. Tán bột làm viên, uống theo toa (An cung ngưu hoàng hoàn ).
  • Trị họng bị lở loét nặng do dịch khí gây nên: Băng phiến, Nhân trung bạch, Nhi trà, Cam thảo, Huyền minh phấn, Kê nội kim. Tán mịn, thổi vào (Băng bạch tán – Dịch Hầu Thiển Luận).
  • Rượu ngâm gừng bột, Tam nại, Băng phiến, bôi ngoài da để đuổi phong thấp, xoa bóp để khỏi đau nhức, thơm người sau khi sinh đẻ (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị viêm tai giữa, viêm ống tai ngoài, vành tai lở loét: Khô phàn 10 phần, Băng phiến 1 phần, bôi (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị tất cả bệnh đột ngột hôn mê nặng: Băng phiến 6g, Chu sa 9g, Hùng hoàng 30g, Tạo phàn 60g, Hoả tiêu 24g, tán bột, cất kín, mỗi lần dùng 1 ít, điểm vào khoé trong mắt, ngoài ra dùng 3 phân uống với nước (Tỉnh não đơn – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị đau nhức lợi răng, sưng răng, nga khẩu sang: Có thể dùng thuốc thổi vào miệng, hoặc xoa vào nơi đau, sau khi xoa vào chỗ bệnh, nước miếng tiết ra nhiều, một lúc sau có thể mửa nôn ra: Băng phiến, Bằng sa, Nguyên minh phấn, Chu sa, tán bột (Băng bằng tán – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).

CHỦ TRỊ

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Khai khiếu tinh thần, chỉ thống, thoái ế. Trị hôn mê lạnh tay chân, co giật, các loại bệnh ngứa lở, chứng ở họng và ở mắt (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Thông khiếu, tỉnh não, chỉ thống, lên da non. Trị bệnh nhiệt hôn mê, mắt đỏ sợ gió, đau họng, đau răng, mụn nhọt sưng đau (Đông Dược Học Thiết Yếu).

LIỀU DÙNG:

Dùng từ 0,3–0,9g bỏ vào thuốc hoàn, thuốc tán, bên ngoài dùng tuỳ ý, giã nát lấy nước cốt nhỏ vào. Vị thuốc này không sắc với thuốc.

KIÊNG KỴ:

  • Phụ nữ có thai khi uống nên cẩn thận, không có thực tà thì cấm dùng, không được uống với rượu vì thuốc sẽ bị rượu dẫn nhanh quá sẽ bị ngộ độc (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Nếu không phải thực tà thì cấm dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

THAM KHẢO

  • Băng phiến là một thứ thuốc trị phong thấp, nhưng bệnh phong ở trong xương tuỷ mới được dùng, phong ở trong huyết mạch thì không nên dùng, lại cốt có tính chất thông khiếu cho nên trị được bệnh sưng đau cuống họng, điếc tai là những bệnh phần nhiều vì hoả uất làm cho các khiếu bị nghẹt do rối loạn sinh ra. Tóm lại, Băng phiến cốt trị khí kết và hoả uất (Bách Hợp).
  • Băng phiến và Chương não (Long não) khác nhau: Băng phiến cho vào miệng thì mát dịu mà chạy, Chương não cho vào miệng thì vị nóng mà không chạy. Băng phiến mùi thơm, không chỗ nào không tới, có thể dẫn được nhiệt từ trong và độc của ung nhọt (sang độc) ra ngoài. Chương não chỉ dùng ngoài cho thuốc sát trùng và nhọt.
  • Làm tỉnh não thuộc chứng hàn phần nhiều dùng Phụ tử, Nhục quế. Tỉnh não thuộc bệnh nhiệt phần nhiều dùng Xạ hương, Băng phiến. Băng phiến có vị cay gắt, nhưng mùi thơm lại đứng đầu các vị thuốc, dùng ít thì hưng phấn, dùng nhiều thì tê, quá liều có thể chết. Đơn thuốc kê rất nhiều dùng
    cho các chứng ở ngoài, uống trong phần nhiều cho vào thuốc viên và phối hợp với thuốc khác (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search