Binh Lang

Bạn đánh giá: 4 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

TÊN KHÁC

Binh lang nhân (Ngoại Đài Bí Yếu), Đại phúc tân lang (Bản Thảo Đồ Kinh), Binh lang tử (Bản Thảo Cương Mục), Cảm lãm tử (Nhật Hoa Tử Bản Thảo), Bạch binh lang (Dược Tính Luận), Mã kim nam (Bút Hoa Y Kính), Thanh tử (Trung Quốc Thụ Mộc Phân Loại Học), Nhân tần (Thượng Lâm Phú), Binh môn (Lý Thường Chi 'Dược Lục'), Binh môn dược tiền (Nam Phương Thảo Mộc Thuật), Tẩy chướng đơn (Ngô Ninh Cập 'Dược Phổ'), Đại phúc tử (Lãnh Biểu Lục Dị), Binh lang bảo, Lang bảo (Trung Dược Chí), hạt Cau (Dược liệu Việt Nam).

MÔ TẢ:

Cây cao khoảng 15–20m, thân thẳng, đường kính 10–15cm. Toàn thân không có lá, chỉ có vết lá đã rụng. Ở ngọn có một chùm lá to rộng, xẻ lông chim, lá có bẹ to. Hoa đực ở ngọn cành hoa, hoa cái ở gốc. Hoa đực nhỏ, mầu trắng, thơm, hoa cái to hơn. Quả hạch, hình trứng. Mùa hoa: tháng 5, mùa quả: tháng 10.

PHÂN BIỆT:

  • Cây Areca laosensis O. Becc: Cây thân trụ cao 2–6m. Lá chét không đều, mép hơi có răng. Cụm hoa dẹt. Quả hình thuôn, khi chín mầu đỏ. Cây mọc hoang trong rừng thư sinh ẩm ở miền trung. Dùng vỏ quả giữa.
  • Cây Pinanga baviensis O. Becc. Cây mọc thành bụi thưa, cao 1–3m. Hai lá chét ở đầu thường dính nhau như đuôi chim én. Cụm hoa buông thõng. Quả thuôn đều, khi chín mầu đỏ. Cây mọc hoang ở rừng núi, nhiều ngất ở Thanh Hóa, Nghệ An. Dùng vỏ quả giữa.

Hạt có hai loại:

  • Hạt Cau rừng (Sơn Binh lang): hạt nhỏ, nhọn và chắc.
  • Hạt cau nhà (Gia Binh lang): hình nón cụt, phần dưới phẳng, ở giữa có chỗ lõm vào. Mặt ngoài mầu nâu nhạt hoặc nâu xám, có nhiều đường vân, đôi khi còn sót lại vết tích của vỏ quả. Hạt khô, cứng, chắc.

Theo kinh nghiệm của dân gian, hạt cau rừng tốt hơn hạt cau nhà.

DƯỢC LÝ

  • Tác dụng trục trùng: chủ yếu là xổ sán. Tác dụng đối với sán heo tốt hơn với sán bò. Tác dụng làm tê liệt thần kinh của sán, kết hợp với hạt Bí đỏ có tác dụng tốt, nâng cao hiệu quả xổ sán. Binh lang đối với giun kim cũng có tác dụng nhất định (Trung Dược Học).
  • Tác dụng đối với hệ thần kinh: Arecolin có tác dụng như thần kinh phó giao cảm, kích thích các thụ thể Cholinergic, làm tăng trương lực cơ trơn của trường vị, tăng nhu động ruột và gây tiêu chảy, làm chậm nhịp tim, hạ huyết áp, tăng tiết nước miếng và mồ hôi, làm đồng tử mắt co lại, tăng co thắt túi mật và cơ trơn tử cung. Arecolin cũng có tác dụng hưng phấn thụ thể Cholin, biểu hiện hưng phấn cơ vân, các tiết thần kinh và động mạch cảnh, còn đối với trung khu thần kinh thì có tác dụng giống như chất Cholin (Trung Dược Học).
  • Tác dụng kháng virus và nấm ngoài da (Chinese Herbal Medicine). Arecolin, hoạt chất chính trong hạt Cau, là một chất giống như đối giao cảm, giống Muscarin. Nó có tác dụng tăng cường sự phân tiết của các tuyến như tuyến nước miếng, tuyến mồ hôi, tuyến dịch vị, dịch ruột, gây thu nhỏ đồng tử. Đối với hệ cơ trơn, arecolin kích thích co bóp với liều nhỏ và làm liệt cơ với liều lớn. Tác dụng diệt Sán của Arecolin chủ yếu thông qua tác dụng kiểu Nicotin, nghĩa là ức chế các hạch thần kinh, khớp thần kinh cơ, gây tê liệt các cơ của sán làm cho sán không bám vào thành ruột được (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ:

  • Vị cay, không độc (Danh Y Biệt Lục).
  • Vị đắng cay, tính ôn, sáp, không độc (Bản Thảo Cương Mục).
  • Vị cay, đắng, tính ôn (Bản Thảo Cầu Chân).
  • Vị chát, the, tính ấm (Dược Liệu Việt Nam).
  • Vị đắng, cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh Vị, Đại trường (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
  • Vào kinh Vị, Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Vào kinh Tỳ Vị, Đại trường, Phế (Bản Thảo Tân Biên).

ĐỊA LÝ:

Mọc hoang ở rừng núi và được trồng khắp nơi.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Về mùa Đông, Xuân khi quả già. Bóc vỏ quả đi, phơi khô là được

BỘ PHẬN DÙNG:

Hạt. Thứ hạt to, nặng, kết chắc, không nứt, vỡ là loại tốt. Thứ hạt nhẹ, xốp, giữa có lỗ rỗng là loại kém.

MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:

Binh lang hình cầu, dẹt hoặc hình nón tròn, cao 1,6–2,6cm, đáy đường kính 2–2,6cm. Mặt ngoài mầu nâu vàng nhạt hoặc mầu nâu vàng, có những đường văn rãnh khía hơi lõm xuống như mạng lưới, giữa đáy có một lỗ lõm xuống, ở bên méo có một ngấn xẹp rõ rệt. Chất cứng, khó đập vụn. Mặt cắt ngang có những đường vân hoa mầu trắng tro và đỏ nâu, chéo nhau lẫn lộn. Không mùi, vị chát, đắng.

BÀO CHẾ:

  • Hái quả thật già, bóc lấy riêng hạt và vỏ, phơi hoặc sấy đến thật khô. Khi dùng, đem hạt khô ngâm nước 2–3 ngày cho mềm. Mỗi ngày thay nước một lần. Không nên ngâm vào dụng cụ bằng sắt vì trong hạt có chất Tanin. Vớt ra, để ráo nước, thái mỏng, phơi hoặc sấy khô. Hoặc lấy Binh lang đã chọn lọc, đập vụn to như hạt đậu là được.
  • Sao Binh Lang: Lấy Binh lang đã thái lát, cho vào nồi sao bằng lửa nhẹ cho đến khi chuyển mầu, lấy ra, để nguội là được.
  • Tiêu Binh Lang: Lấy Binh lang lát, cho vào nồi, sao bằng lửa mạnh cho đến khi có mầu vàng cháy, phun sơ qua ít nước, lấy ra, hong khô là được.

BẢO QUẢN:

Để nơi thoáng gió, khô ráo, tránh ẩm ướt và sâu mọt.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị thức ăn tích lại, khí trệ gây đầy bụng: Tân lang, Mộc hương, Nhân sâm, Trần bì, Cam thảo. Tán bột, trộn với bột mì làm thành viên, uống với nước nóng, trước bữa ăn (Tân lang hoàn – Chứng Trị Chuẩn Thằng).
  • Trị bụng đầy, táo bón do thực tích, khí trệ: Binh lang, Mộc hương, Thanh bì, Trần bì, Nga truật, Hoàng liên đều 30g, Hoàng bá, Đại hoàng đều 100g, Hương phụ (sao), Khiên ngưu đều 120g. Tán bột mịn, làm viên. Mỗi lần uống 6–10g, ngày 2–3 lần với nước ấm (Mộc hương binh lang hoàn – Đan Khê Tâm Pháp).
  • Trị sốt rét: Thường sơn 3g, Binh lang, Thanh bì, Trần bì, Chích thảo, Thảo quả nhân đều 2g, sắc uống, trước khi lên cơn 2 giờ (Tiệt ngược thất bảo ẩm – Dương Thị Gia Tàng).
  • Trị khí trệ, bụng đau, đại tiện không thông: Binh lang, Chỉ thực, Ô dược, Mộc hương, lượng bằng nhau. Mài đặc, thêm nước uống (Tứ ma ẩm – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
  • Trị sán dây: Buổi sáng lúc đói ăn 40–100g hạt Bí ngô (đã bỏ vỏ). Hai giờ sau uống nước sắc hạt Cau: Trẻ nhỏ trên 10 tuổi 30g, phụ nữ 50–60g, người lớn 80g cho liều hạt Cau trên đây, sắc với 300ml nước, còn 150ml, uống hết một lần. Nửa giờ sau, uống một liều thuốc tẩy (Magne sulfate 30g). Nằm nghỉ, đợi lúc thật muốn đi tiêu thì ngồi vào một chậu nước ấm (Dược Liệu Việt Nam).
  • Trị sán dây: Binh lang 60g, Sơn tra 1kg (trẻ nhỏ giảm nửa liều). Nếu dùng khô: người lớn 250g, trẻ nhỏ 120g. Rửa Sơn tra, bỏ nhân, 3 giờ chiều bắt đầu ăn đến 10 giờ tối hết, tối nhịn ăn. Sáng hôm sau, sắc Binh lang còn lại 1 chén trà nhỏ, uống hết một lần, nằm nghỉ. Lúc muốn đi tiêu, nín 15 phút rồi ngâm mông vào chậu nước ấm nóng cho ra hết sán (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Trị giun kim: Binh lang 15g, Thạch lựu bì Nam qua tử đều 10g, sắc uống lúc đói trước khi đi ngủ (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Trị khó tiêu, bụng đầy trướng: Hạt cau 10g, Sơn tra 10g. Sắc uống (Tài Nguyên Cây Thuốc Việt Nam).

CHỦ TRỊ

TÁC DỤNG:

  • Tiêu cốc, trục thủy, trừ đờm tích, sát tam trùng, liệu bạch thốn (Danh Y Biệt Lục).
  • Tuyên lợi ngũ tạng lục phủ, ủng trệ, phá kiên mãn khí, hạ thủy thũng (Dược Tính Bản Thảo).
  • Sát trùng, tiêu tích, hành khí, lợi thủy (Chung Dược Học).
  • Giáng khí, phá trệ, sát trùng, thông thủy (Đông Dược Học Thiết Yếu).

CHỦ TRỊ:

Trị bụng có giun, ăn uống tích trệ gây đau, cước khí do sơn lam chướng khí, phù thũng, lỵ (Đông Dược Học Thiết Yếu).

KIÊNG KỴ:

  • Ăn nhiều Binh lang sẽ phát sốt (Thực Liệu Bản Thảo).
  • Bệnh thuộc khí hư: không dùng (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Sau khi bị tiêu chảy, sốt rét, lỵ: nhất thiết không được dùng (Bản Kinh Phùng Nguyên).
  • Người khí hư hạ hãm hoặc không có trùng tích khí trệ: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

LIỀU DÙNG:

6–12g.

THAM KHẢO

  • Binh lang hạ khí xuống giống như sắt đá cho nên phá trệ khí, trị kiết lỵ mót rặn như thần. Ở miền Lĩnh Nam thường ăn cau vì khí chướng lệ sinh ra đều do thức ăn tích lại, mà Binh lang lại có tác dụng tiêu chất ăn ngưng đọng, hạ khí xuống (Dược Phẩm Vậng Yếu).
  • Phàm những vị thuốc khéo phá hủy và đi xuống thì dễ làm tổn thương nguyên khí mà hại ngầm chân âm, vì thế, nếu chứng kiết lỵ, nếu không phải thực chứng, lại mới phát thì không được dùng Binh lang bừa bãi, nhất là chứng khí hãm xuống, giống như chứng lỵ thì càng cấm dùng (Dược Phẩm Vậng Yếu).
  • Vị thuốc này thon, dài, gọi là Kê tâm tân lang (giống trái tim con gà), một loại nữa hình tròn, dẹt, gọi là Đại phúc tân lang. Ngoài ra một loại nữa hai đầu nhọn, gọi là Thoa thân tân lang. Trong đó sức giáng khí, phá trệ của Kê tâm tân lang mạnh, là loại tốt nhất. Công năng của Đại phúc tân lang kém hơn, là vị thuốc thường dùng nói chung. Còn công năng của Thoa thân tân lang càng kém hơn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Theo sách vở ghi chép thì vị thuốc này giỏi về chìm, nặng, đi xuống, và tiết khí ở trong bụng thông xuống, thiên về khoan thông trung tiêu và tiêu đạo tích trệ. Gần đây, phần nhiều dùng để tẩy sán và sán ba lá, đồng thời sử dụng rất cao, mỗi lần chừng 120g, khác với lượng sử dụng của các đơn thuốc thông thường (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search