TÊN KHÁC
Gừng khô (Việt Nam), Bạch khương, Quân khương (Bản Thảo Cương Mục), Bào khương, Hắc khương, Thánh khương, Đạm can khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
MÔ TẢ
Cây thảo sống lâu năm, cao khoảng 1m. Thân rễ mọc phình lên thành củ, khi già thì có xơ. Lá không cuống, mọc cách nhau, hình mũi mác, dài tới 20cm, rộng 2cm, bẹ nhẵn, lưỡi bẹ nhỏ dạng màng. Cán hoa dài khoảng 20cm, mọc từ gốc, nó nhiều vẩy lợp lên. Cụm hoa dạng trứng, dài 5cm, rộng 2–3cm, lá bắc hình trái xoan, màu lục nhạt, có mép vàng. Đài có 3 răng ngắn. Tràng có ống dài gấp đôi đài, có 3 thùy hẹp nhọn, 1 nhị. Nhị lép không có hoặc tạo thành thùy bên của cánh môi. Cánh môi màu vàng, viền thêm màu tía, dài 2cm, rộng 1,5cm, chia thành 3 thùy tròn, các thùy bên ngắn hơn. Bầu nhẵn, nhụy lép dạng sợi. Có hoa vào mùa hè và mùa thu.
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ
Vị cay, mùi thơm hắc, tính ấm nóng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). · Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH
Vào kinh Tâm, Tỳ, Phế, Vị (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Vào kinh Tâm, Tỳ, Vị, Phế, Thận, Đại trường (Đông dược học thiết yếu).
ĐỊA LÝ
Gừng có khắp nơi trong nước Việt Nam, thường được trồng làm thuốc, mứt, xuất khẩu.
BỘ PHẬN LÀM THUỐC
Thân rễ (thường gọi là củ) đã phơi khô.
THU HÁI, SƠ CHẾ
Mùa đông đào lấy củ rễ những thân cây già, khi cây bắt đầu lụi, cắt bỏ lá và rễ con, rửa sạch phơi khô gọi là Can khương (Gừng khô).
MÔ TẢ
Thân rễ gừng khô là loại Gừng lây năm càng tốt có dạng ngón tay phẳng dẹt phân nhánh, có đốt rõ ràng vỏ ngoài màu xám trắng hoặc xám vàng nhăn teo. Đỉnh có vết rễ và vết mầm chất cứng dòn mặt cắt có chất xơ. Loại to, già, khô, củ chắc, vỏ sắc màu vàng nhợt ít nhăn, sạch rễ con, thịt trong mầu vàng đậm là tốt. Thứ mốc vụn nát, ruột đen thối là xấu.
BÀO CHẾ
Khi dùng rửa sạch ủ mềm, đồ qua rồi bào hay thái mỏng (không cần bỏ vỏ). Phơi khô.
BẢO QUẢN
Để nơi khô ráo, kín, tránh ẩm, nóng làm mất tinh dầu thơm.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị mất huyết, sắc mặt trắng bệch, không được quang nhuận, mạch Nhu, đó là bị nhiều hàn khí nên dùng Can khương, vì tính ấm cay để ích huyết, vì có sức rất nóng để làm ấm kinh lạc khi dùng nên sao đen mới tốt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị Tỳ vị hư yếu, ăn uống kém, những người này dễ bị thương phong, khó tiêu, yếu đuối, gầy ốm: Can khương tán bột. Mạch nha 120g, nấu cho tan ra, trộn với thuốc bột làm viên to bằng hạt ngô đồng, uống lúc đói với cơm, ngày 30 viên (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị nôn mửa, váng đầu do Vị hàn, có đàm: Bào khương 7,5g, Chích thảo 3,6g. Sắc với 1 chén rưỡi nước còn phân nửa, uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị trúng hàn, tiêu chảy: Bào khương tán bột, ăn với cháo, mỗi lần 6g (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị hàn lỵ ra màu xanh: Can khương, xắt như hạt đậu lớn, mỗi lần uống 3 lát với nước cơm ngày 3 lần, đêm 1 lần (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị huyết lỵ không cầm: Can khương đốt cháy tồn tính, để nguội, tán bột, mỗi lần uống 3g với nước cơm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sốt rét do Tỳ hàn: Can khương sao đen, tán bột, khi cần dùng uống 9g với rượu nóng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị ho nghịch lên, tức ngực: Can khương uống với Quất bì, Ô dước, Bạch đậu khấu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị hạ lỵ, đau bụng do hàn: Can khương, Bạch truật, Phục linh, Nhân sâm, Cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sản hậu máu dơ ra không cầm, huyết hư, vàng da: Can khương, Bạch thược, Đương quy, Ngưu tất (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị hạ huyết do trường tích: Can khương, Sinh địa, Bạch thược, Mạch môn, Nhân sâm, Hoàng kỳ, Cam thảo, Thăng ma (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Trị trúng ác khí: Can khương, Hoắc hương, Sa nhân, Quất bì, Tô mộc, Mộc hương, Bỏ Mộc hương gia Mộc qua trị được sình bụng do hoắc loạn. Gia Quế chi có thể trị các độc của phong tà, kết khí, giữa bì phu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị nôn mửa do Vị hư: Can khương, Quất bì, Nhân sâm, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sốt rét có đàm (Đàm ngược) lâu ngày không khỏi: Can khương, Quất bì, Truật, Bối mẫu, Phục linh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sốt rét do hàn (hàn ngược): Can khương, Nhân sâm, Truật, Quế chi, Quất bì (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị tiêu chảy do hư hàn, trúng hàn: Can khương, Nhân sâm, Truật, Cam thảo (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị đau bụng lạnh, trướng đầy, thổ tả, lạnh tay chân, mạch Vi, đàm ẩm, ho suyễn, tê bại, băng huyết: Can khương 9–12g, sắc uống (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị Tỳ Vị dương hư, tứ chi quyết lãnh, mạch Vi muốn tuyệt: Can khương 12g, Thục phụ tử 9g, Chích cam thảo 3g, sắc uống [Thông mạch tứ nghịch thang] (Dược vị giống như Tứ nghịch thang, chỉ khác là vị Can khương liều lượng nhiều hơn) (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị tiêu chảy, đau bụng sườn do lạnh: Can khương, Cao lương khương, các vị bằng nhau tán bột làm viên, mỗi lần uống 3–6g với nước nóng (Nhị khương hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị tiêu chảy do hàn: Bào khương 30g, giã nát, sao cho nóng, đắp trên bụng đến Đơn điền (Dưới rốn đắp 1 vùng đường kính chừng 2–5cm) dùng vải buộc lại khoảng 1–2 giờ (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị nôn mửa do hàn ẩm: Bán hạ 9g, Can khương 6g, tán bột, mỗi lần uống 3–6g với nước nóng (Bán hạ can khương tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị nôn mửa thuộc hư hàn: Can khương, Nhân sâm, Bán hạ, các vị bằng nhau, tán bột, trộn nước gừng làm viên, mỗi lần uống 6–9g, ngày 3 lần (Can khương nhân sâm bán hạ hoàn – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị nôn ra máu, tiêu ra máu, băng huyết do hư hàn: Can khương (đốt cháy đen tồn tính) tán bột, mỗi lần uống 2–4g với nước nóng (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị phụ nữ băng huyết: Can khương 6g, Tông bì, Ô mai đều 9g, tất cả đốt cháy đen tán bột uống (Như thánh tán – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị mửa ra máu không cầm thuộc hư hàn: Khương thán (gừng đốt cháy), Cam thảo đều 6g, sắc uống với nước tiểu trẻ con (Can khương cam thảo thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Trị hàn ẩm phạm Phế, khí suyễn, ho: Phục linh 9g, Cam thảo, Ngũ vị tử, Can khương đều 3g, Tế tân 1,5g (Linh cam ngũ vị tân thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
CHỦ TRỊ
- Ôn trung khử hàn, hồi dương thông mạch, đồng thời có tác dụng cầm máu, giảm ho. Trị Tỳ Vị hư hàn, Ho do phế hàn (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Ôn trung, khư hàn, hồi dương, thông mạch. Trị ho suyễn do thượng tiêu có hàn ẩm, thổ tả, đau bụng, chân lạnh, mạch Vi, chứng âm thịnh cách dương, chân hàn giả nhiệt (Đông Dược Học Thiết Yếu).
LIỀU DÙNG
Dùng từ 2–4g. Hồi dương dùng 9–12g. Cầm máu nên sao đen thành than (gọi là Khương thán hoặc Hắc khương), mỗi lần dùng 2–4g.
KIÊNG KỴ
Can khương vị rất cay, người âm hư có nhiệt, có thai không nên dùng. Vì cay nên tán khí tẩu huyết, uống lâu tổn hại tới phần âm, thương tổn mắt. Ngoài ra những chứng âm hư nội nhiệt, ho do âm hư, nôn ra máu kèm biểu hư có nhiệt, tự ra mồ hôi, mồ hôi trộm, tiêu ra máu, nôn mửa do nhiệt, đau bụng do hỏa nhiệt, đều cấm dùng. (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
Âm hư nội nhiệt mà Vị bị thực: không dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu). Vị này ghét Hoàng cầm, Hoàng liên, Dạ minh sa, Tần tiêu làm sứ cho nó (Bản Thảo Kinh Sơ).
THAM KHẢO
- Can khương là gừng đồ sôi chín, phơi khô. Phá được huyết tiêu được đờm, đau bụng, nôn mửa đều dùng được, ấm trung tiêu đưa khí xuống, trừ trưng hà tích tụ, khai vị, giúp tỳ tiêu thức ăn ngưng trệ. Để sống thì phát hãn nhanh chóng, sao đen thì cầm máu rất hiệu nghiệm. Thường bào chế vào thời kỳ cuối đông đầu xuân, lấy Gừng già đã thành xơ trong ruột, đem ngâm ở dòng nước chảy 7 ngày, lấy lên, rửa sạch, cho vào chõ đồ chín, phơi khô để dùng (Dược Phẩm Vậng Yếu).
- Gừng khô xắt lát dầy, sao cháy đen tồn tính (80%) gọi là Hắc khương hay Khương thán, có tác dụng cầm máu, mửa ra máu, lỵ ra máu. Hắc khương dùng với thuốc bổ âm thì nó đem được huyết vào phần khí, những chứng huyết hư phát sốt và chứng nóng lạnh vì bệnh huyết sau khi sinh có khi hay dùng đến Hắc khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Gừng khô ngâm nước rửa sạch để khô đổ nước vào nồi đất nung lửa nhỏ và quấy đều chừng nửa ngày, hễ thấy củ Can khương đều nhẹ đi là được gọi là Bào khương, Vị nó hơi đắng mà tính lại đứng yên một chỗ. Khác với Sinh khương, Bào khương có tác dụng ôn được Tỳ Vị, trị những chứng bên trong bị hàn tà, ứ nước, hoắc loạn, sốt rét lâu ngày, đau ngực lạnh bụng, tức đầy, lạnh hạ tiêu, dương khí của thận suy, mạch muốn tuyệt, những chứng này dùng Bào khương gia thêm Phụ tử giúp sức thì rất công hiệu (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Gừng khô xắt lát dầy, sao xém vàng, còn đang nóng, rảy ít nước vào rồi đậy kín ngay để nguội lấy dùng gọi là Tiêu khương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Gừng đồ lên để nguyên cả vỏ phơi khô gọi là Can sinh khương trị chứng tỳ vị hàn thấp. Gừng cạo vỏ đi nhưng chưa đồ, chưa bào, màu trắng vị rất cay gọi là Bạch khương, Thục khương, trị chứng Phế và Vị hàn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Cách chế ngày xưa như sau: Đem gừng sống ngâm nước 3 ngày bỏ một lần vỏ rồi đem để ở dòng nước chảy 6 ngày, bỏ một lần vỏ nữa lại đem phơi cho khô, đổ ra chỗ bằng phẳng trong 3 ngày, hễ thấy Gừng sống biến thành màu tím là được. Có khi người ta đem Can khương tẩm nước tiểu trẻ nhỏ rồi cũng sao như Bào khương nhưng kỹ hơn một chút, khi nào thấy đen là được (Trung Dược Học).
- Can khương và Phụ tử đều có tác dụng ôn dương khử hàn. Nhưng Can khương thuộc về ôn Tỳ dương trị lạnh tay chân, quyết nghịch. Trường hợp âm hàn nội thịnh, Tỳ Thận dương đều hư thì cả 2 vị có thể cùng dùng một lúc (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Vị này tính nhiệt, do khô, táo nên sức phát tán yếu nhưng tác dụng ôn lý lại tăng mạnh, thiên về trị lý bị hàn, năng tẩu năng thủ, vì vậy dùng để khứ hàn, ôn trung, hồi dương. Can khương và Phụ tử đều có tác dụng ôn lý, tán hàn, hồi dương nhưng Phụ tử thiên về ôn Thận dương còn Can khương chủ yếu ôn Tỳ dương, vì vậy, chứng lý hàn nội thịnh, Tỳ Thận dương suy, chân tay quyết lạnh thì hai vị này thường được dùng phối hợp. Sinh khương tính ôn, thiên về phát tán, tẩu nhi bất thủ, thường dùng trị ngoại cảm phong hàn và trong Vị có hàn, ẩm gây nên nôn mửa. Bào khương tính khổ, ôn, đã mất tác dụng tân tán, tính thủ nhi bất tẩu, vì vậy chuyên về ôn lý, có thể dẫn thuốc vào huyết, cho nên có thể chỉ huyết, hóa được hàn trong huyết, thích hợp với chứng xuất huyết do hư hàn (dương hư) như băng huyết, thổ huyết, tiện huyết... (Thực Dụng Trung Y Học).


