Cảo Bản

Bạn đánh giá: 2 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lựcNgôi sao không hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản Kinh, Tên gọi Cảo có nghĩa là lúa, bản là gốc. Vì cây có gốc như lúa nên có tên như vậy.

TÊN KHÁC

Quỷ khanh, Địa tân (Bản Kinh), Vi hành (Biệt Lục), Cảo bạt (Sơn Hải Kinh), Thổ khung, Quỷ thần, Nhi khanh, Sơn khuân tuy, Bảo sinh tùng (Hoà Hán Dược Khảo), Sơn cự, Uý hương (Quảng Nhã), Cảo phản (Sơn Đông Trung Dược).

MÔ TẢ

Cây thảo sống lâu năm cao 0,5–1m có khi cao hơn, lá mọc so le, kép 2–3 lần xẻ lông chim, cuống là dài 10–20cm phía dưới ôm lấy thân cây, lá chét hình trứng, mép có răng cưa nhỏ, tán nhỏ mang nhiều hoa nhỏ màu trắng. Quả bế đôi gồm 2 phân quả, mỗi phân quả có 5 sống, chạy dọc giữa các sống có 5 bó libe gỗ. Các sống ngăn cách nhau bởi các rãnh nhỏ.

TÍNH VỊ QUY KINH

TÍNH VỊ

  • Vị cay, tính ấm không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH

  • Vào kinh Bàng quang (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển)
  • Vào kinh Bàng quang (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ: Còn phải nhập của Trung Quốc.

BỘ PHẬN LÀM THUỐC

Dùng thân rễ gần như hình cầu, đường kính 1–3cm mặt ngoài màu nâu sần sùi, mặt trong màu trắng ngà.

THU HÁI, SƠ CHẾ

Chọn thân rễ vào tháng giêng, hai, phơi trong râm cho khô, sau 30 ngày, khi dùng cắt bỏ đầu rửa sạch xắt lát phơi khô.

MÔ TẢ

Thân rễ Cảo bản khô có hình viên chuỳ không đều, dài khoảng 6–14cm, vỏ ngoài màu vàng đất hoặc màu vàng nâu phần trên thân rễ to hơn, phủ khít nốt duỗi sắp thành dạng đầu là dấu vết của rễ, phần đỉnh thì có bộ phận tàn dư của thân, phần dưới thân rễ nhỏ gầy, khoảng giữa cách các vết nhăn dọc đều có các đốt phình lớn. Trên đốt cũng có vết rễ có mùi thơm đặc biệt. Theo thói quen thường cho rằng Cảo bản của Tứ Xuyên sản xuất nổi tiếng hơn sản xuất từ Thiểm Tây, được gọi là Tây khung, củ lớn hơn ngón tay cái, xù xì như củ Xuyên khung, nhưng đặc biệt không phải Xuyên khung như một số hàng dược đã thay thế trước đây, mùi vị giống Xuyên khung, đắng thơm không mối mọt là tốt.

BÀO CHẾ

  • Không bào chế gì cả, khi dùng chọn loại chắc, không mọt là tốt (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Rửa sạch, cho vào bao cói buộc chặt lại, luôn nhúng nước, để rễ dần dần mềm ra, sau đó thái phiến (Đông Dược Học Thiết Yếu).

BẢO QUẢN

Cất kín, tránh mối mọt.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị đau nhói ở tim đã dùng thuốc hạ lợi rồi nhưng không bớt: Cảo bản 15g, Thương truật 30g, sắc với 2 chén nước, còn một chén, uống nóng (Hoạt Pháp Cơ Yếu).
  • Gội đầu để trừ gầu khô: Cảo bản, Bạch chỉ, 2 vị bằng nhau, tán bột, bôi trước khi ngủ, sáng sớm chùi đi, có thể trộn mỡ bôi trên đó (Tiện Dân Đồ Soán).
  • Trị trẻ nhỏ lở ngứa: Cảo bản sắc nước rửa, đồng thời nấu để giặt thêm quần áo (Bảo Ấu Đại Toàn).
  • Trị hàn tà uất kết ở kinh túc Thái dương, nhức đầu và nhức ở đỉnh đầu: Cảo bản, Tế tân, Xuyên khung, Khương hoạt, Thông bạch, sắc uống ấm (Cảo bản thang – Nghiệm Phương).
  • Trị cảm phải sương mù, nên thanh tà ở thượng tiêu: dùng Cảo bản và Mộc hương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Trị cảm mạo do phong hàn, nhức đầu ớn lạnh, không ra mồ hôi: Khương hoạt 6g, Độc hoạt, Phòng phong, Cảo bản, Mạn kinh tử đều 9g, Xuyên khung 4,5g, Cam thảo 3g, sắc uống (Khương hoạt phòng phong thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). · Trị đau nhức ở đỉnh đầu, phong hàn phạm vào não, đau nhức ở đỉnh đầu, sau đầu, đến răng má, thấp khớp: Cảo bản, Phòng phong, Bạch chỉ, mỗi thứ 9g, Cam thảo 4,5g. Sắc uống sau khi ăn (Lâm sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách). Trị ngứa lở ngoài da, gầu ngứa đầu: Cảo bản 15g, giã nát, sắc lấy nước rửa chỗ lở ngứa (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ

Tán hàn, giải biểu, khư phong, chỉ thống. Trị nhức đầu do phong hàn, đau nhức ở đỉnh đầu, thấp khớp, tiêu chảy, đau bụng do hàn thấp (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển). · Chuyên trừ phong hàn thấp tà. Trị nhức đầu thuộc kinh Túc thái dương, đặc biệt là phong hàn xâm nhập vùng đỉnh đầu gây đau nhức, thì hiệu quả điều trị càng cao (Đông Dược Học Thiết Yếu).

LIỀU DÙNG

3–9g.

KIÊNG KỴ

Cảo bản ghét Lan nhự, sợ Thanh tương tử (Bản Thảo Kinh Sơ). · Âm hư hoả vượng, không có phong hàn, thực tà: cấm dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển). Nhức đầu thuộc ôn bệnh, sốt nóng khát nước và sản hậu huyết hư hoả bốc lên nhức đầu đều không nên dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

THAM KHẢO

  • Cảo bản trị được 100 chứng phong độc, quỷ chú chạy vào làm đau bụng, đau do gió lạnh, thông được tiểu tiện, lợi huyết mạch, chữa đầu phong, da mặt sần sùi, nám đen (Dược Tính Bản Thảo).
  • Cảo bản trị được nốt da sần sùi ở mặt, đỏ mũi, động kinh (Chư Gia Bản Thảo).
  • Cảo bản trị được chứng đau đầu do thái dương, đau nhức ở đỉnh đầu, vẹo cổ vì gió lạnh cảm vào não, đau suốt chân răng lan ra má (Trân Châu Nang).
  • Trị chứng ở đầu, mặt, thân thể da bị nổi nốt, phong thấp tà khí (Dụng Dược Pháp Tượng).
  • Cảo bản trị bệnh ở đốc mạch, đau xuống lưng làm cứng đơ không cúi ngửa được, có khi phát ra chứng quyết nữa (Thang Dịch Bản Thảo).
  • Cảo bản có vị cay, khí ấm, sách Biệt Lục nói nó có cả vị đắng vì nó bị hoả hoá nhưng không độc, có thể nhập vào kinh Thái dương. Nó có tính ấm lại hay thông, vì đắng nên tiết được, nếu cay lắm thì phải tán, khí đi lên nên trị đàn bà bị sán khí, trưng hà, đau vì âm hộ bị lạnh, đau co rút ở bụng là do kinh Thái dương bị hàn tà hay thấp khí. Vì phong làm ra các chứng nhức đầu, vì gió nhiều vào kinh Thái dương thì vị Cảo bản là vị thuốc quý để chữa cho kinh đó. Vả lại, các chứng ung nhọt, lở loét cũng đều vì huyết nhiệt lại bị ủng trệ, bị khí độc len lỏi và sâu trong cơ nhục sinh ra đau nhức, lở thối thì phải nên dùng những vị cay cho tan đi, vị đắng cho tiết độc thì tự nhiên độc phải giải hết và chỗ đọng trệ được tiêu tan hết, khi đó da thịt mới có thể sinh trưởng được, nhờ thế nhan sắc theo đó mà xinh đẹp, quang nhuận (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Cảo bản có vị cay, tính ấm, khí thăng tán, đi lên, chuyên vào kinh Thái dương, Thái âm, bị gió lạnh hay khí thấp Cảo bản sơ đạt được những khí đó. Nó lại thông được kinh huyết bị uất trệ. Công dụng gần như vị Tế tân, Xuyên khung, Khương hoạt, tính nó giải được kết tụ, trừ gió lạnh, trị nhức đầu. Tuy nhiên, các sách xưa cho rằng nên cẩn thận thẩm xét bệnh tình cho chính xác, không phân biệt được hàn nhiệt mà đổ lỗi cho sách thì không nên vậy (Tuỳ Tức Cư Ẩm Thực Phổ).
  • Cảo bản là một vị thuốc trị phong, nhất là chữa chứng đau đầu, thường kết hợp với Xuyên khung, Bạch chỉ để giúp thêm sức mạnh (Bách Hợp).
  • Cảo bản cảm khí dương của trời, được vị cay của đất, cho nên khí ấm mà đắng, đắng theo hoả hoá cho nên khi dùng nó, trị được bệnh nhức ở trên đỉnh đầu. Hễ chứng đau do nhiệt ở trong và bệnh ôn thử vào mùa xuân, mùa hè thì không nên dùng (Dược Phẩm Vậng Yếu).
  • Cảo bản đi lên, thăng tán, công dụng gần giống với vị Khương hoạt. Nhưng Khương hoạt trị nhức đầu, các khớp ở tay chân, thiên về nửa người phần trên. Còn vị thuốc này thiên trị về phong tà xâm phạm đỉnh đầu thuộc kinh Thái dương, là vị thuốc cần phải dùng để trị đau nhức vùng đỉnh đầu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Cảo bản vị cay, tính ôn, mạnh, vào kinh Thái dương, kèm thông mạch Đốc, vì vậy nó là thuốc chủ yếu dùng để trị ngoại cảm phong hàn dẫn đến đau nhức vùng đỉnh đầu (Thực Dụng Trung Y Học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search