Xuất xứ: Bản Thảo Thập Di Tên khoa học: Solanum melongena Linn. Họ khoa học: Cà (Solanaceae).
TÊN KHÁC
Bột hải gia, Phiên gia, Thủy gia, Giá gia (Cương Mục), Lạc tô (Ngũ Đại Di Tử Lục), Lạc tô (Cương Mục Thập Di), Côn lôn qua (Ngự Lãm), Thảo miết giáp (Dưỡng Sinh), Thanh gia, Tử gia, Bạch gia, Nhân gia (Bản Thảo Cầu Chân), Hà bảo gia (Thực Vật Học Đại Từ Điển) Côn lôn tử qua (Thập Di Lục), Nụy (ải) qua (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Cà dái dê tím, Cà dê, Cà tím (Việt Nam).
MÔ TẢ
Cây thảo sống hàng năm có khi sống dai hơn. Thân hơi hóa gỗ, thường có gai hoặc không. Lá mọc cách phủ nhiều lông len, có gai, phiến lớn, hình trái xoan hay thuôn, không đối xứng thường tròn ở gốc, nhọn đầu có phân thùy nhiều hay ít, các thùy thường ngắn, tù. Hoa tập trung thành xim ở nách lá. Đài hình phễu, có khi có gai, có 5–6–9 thùy hoặc hơn, không đều nhau, hình mũi mác nhọn. Tràng lớn màu tím xanh, tím nhạt hoặc trắng mặt ngoài phủ lông tơ. Bầu hình cầu hoặc cầu dẹt có 2–3 hoặc nhiều ô. Quả mọng có kích thước, hình dạng, màu sắc thay đổi theo thứ tự và tùy điều kiện trồng trọt. Hạt bé, giẹp, màu vàng. Cây ra hoa tháng 3–4, có khi ra quả quanh năm gọi là Cà tứ thời.
DƯỢC LÝ
Tăng tiết dịch tiêu hóa: Cà dái dê làm tăng tiết mật và dịch tụy, giúp tiêu hóa thức ăn. Cholesterol trong mật nhũ hóa chất béo để có thể hấp thụ qua thành ruột. Trypsin trong dịch tụy thủy phân protein thành albumin và aminoacid. Mật còn làm tăng nhu động ruột. Cà này trị ăn không tiêu, đầy bụng. Trị táo bón: Chất xơ làm phân tăng thể tích và không đóng tảng. Chất nhầy làm phân trơn nhuận. Giảm Cholesterol, giảm thân trọng: Gan tiết mật, cholesterol là thành phần quan trọng của mật. Ruột có Cholesterol của mật và trong thực phẩm (thịt, trứng).– Chất béo cần nhờ Cholesterol nhũ hóa mới ngấm được vào máu. Chất nhầy của cà Dái dê ngoại hấp Cholesterol. Chất này bị khóa hoạt tính nên không hoàn thành chức năng, chất béo không được nhũ hóa nên ở lại ruột. Cả Cholesterol và chất béo lưu lại trong ruột để rồi di chuyển xuống ruột già và bài xuất theo phân. Cơ thể không được tiếp tế cholesterol và chất béo, chẳng những thế mật còn kéo theo Cholestrol. Kết quả là Cholesterol và chất béo trong máu đều giảm. Ăn Cà dái dê chính là cách giảm Cholesterol–huyết và Triglycerid–huyết an toàn nhất. Một quả cà tím nướng có khả năng hấp thụ 83g chất béo trong 70 giây, cao gấp 4 lần khoai. Không được tiếp tế thêm, cơ thể tiêu thụ mỡ dự trữ nên thân trọng giảm. Phụ trị bệnh tim mạch: Chất béo không tan trong huyết tương nên phải núp dưới dạng kết hợp với cholesterol và apoprotein gọi là lipoprotein. Lipoprotein lại chia ra nhiều loại nhưng chỉ có 2 loại làm chúng ta lưu tâm là lipoprotein LDL (low density) và HDL (high density). Lipoprotein LDL dư thừa (nhân dân gọi là máu nhiễm mỡ) dễ bị oxy–hóa, tăng kết đọng tiểu cầu (tạo cục máu) và gây xơ động mạch. Động mạch bị dòn cứng và giảm khẩu độ, dẫn tới cao huyết áp, thiểu năng động mạch vành. Nếu tảng xơ động mạch hoặc cục máu di chuyển tới tim gây gây đột tử (nhân dân gọi là chết không kịp ngáp), nếu lên não sẽ gây tai biến não. Chất nhầy của cà dái dê làm giảm triglycerid và cholesterol cũng làm giảm nguy cơ bệnh tim mạch. Các tài liệu của Đại học Berkeley, Johns Hopkins, Harvard, Tufts gần đây còn cho biết, thực đơn nhiều chất xơ và kali cũng giảm nguy cơ đột tử và tai biến não. Chất chống oxy–hóa (violantine) trong cà dái dê cũng tham gia ngăn chặn sự oxy-hóa lipoprotein LDL (Món Ăn Bài Thuốc). Thông tiểu và thải urê: Cà dái dê thông tiểu, tăng thải urê và acid uric (Món Ăn Bài Thuốc).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
Vị ngọt, tính hàn (Khai Bảo Bản Thảo). Vị ngọt, tính mát (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ). Vị ngọt, tính lạnh không độc (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Vị ngọt, tính mát (Trung Dược Đại Từ Điển
QUY KINH:
- Vào trường, Vị (Bản Thảo Cầu Chân). Vào Can, Tỳ (Bản Thảo Tái Tân).
- Vào kinh Tỳ, Vị, Đại trường (Trung Dược Đại Từ Điển).
ĐỊA LÝ: Được trồng làm thức ăn khắp nơi Việt Nam.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hái tháng 9 – 10 hàng năm, dùng tươi hoặc phơi nắng cho khô.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC: Hoa, trái (còn gọi quả) đế quả, rễ.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
Trị phụ nữ vàng da chóng mặt: dùng cà dê chín vàng, lấy dao tre cắt ra phơi trong râm cho khô rồi tán bột, mỗi lần uống 6g với rượu nóng (Trích Huyền Phương). Trị đại tiện ra máu, máu ra nước xối xả rồi phân ra sau: quả cà dê còn nguyên đế, đốt tồn tính rồi tán bột, uống 6g với rượu nóng lúc đói (Linh Uyển Phương). Trị tiêu ra máu lâu ngày: cà lớn 3 quả, mỗi lần dùng 1 quả, lấy giấy ướt bọc lại nướng chín xong bỏ vào bình ngâm với 1 thăng rưỡi dấm, rồi lấy giấy sáp (hoặc nylon) bọc kín 3 ngày, sau đó bỏ cà đi chỉ lấy nước mà uống nóng (Phổ Tế Phương). Trị đau gò trong bụng như rùa bò: Cà non muối chua đã lâu ngày, đốt tồn tính, bỏ vào một ít Xạ hương, Khinh phấn, trộn ít mỡ dán vào (Thọ Thành Phương). Trị phong đờm nhiệt: Cà già quả lớn, nhiều ít cũng được, bỏ vào trong hũ chôn dưới đất 1 năm cho rã ra thành nước, lấy lên, bỏ bột Khổ sâm vào, làm thành viên to bằng hạt Ngô đồng lớn, uống sau khi ăn hoặc lúc ngủ, mỗi lần 30 viên với rượu, rất có hiệu quả (Đồ Kinh Bản Thảo).
Trị đau lưng, chân co rút, thắt lưng và chân có phong huyết tích lạnh, co rút xương cốt đau nhức: Cà 5–10 cân, xắt lát, rửa sạch, nấu nước cốt thật đậm đặc, lọc bỏ bã, rồi sắc cô lại còn 1 thăng, nấu với bột gạo sống cho tới khi đặc là được, thêm vào một ít Xạ hương, Chu sa, làm thành viên to bằng hạt Ngô đồng lớn, mỗi lần uống 30 viên với Rượu nếp, gần tối thì uống, một tháng là đỡ (Đồ Kinh Bản Thảo). Trị bị chấn thương đập đánh làm ứ bầm xanh tím: dùng Cà trái lớn quả già xắt lát dầy bằng ngón tay sấy trên ngói sạch, rồi tán bột, mỗi lần uống 6g với rượu nóng, một đêm thì đỡ, không có sẹo vết chi cả (Thắng Kim Phương). Trị trên cao ngã xuống, chấn thương, bị đánh đập, muốn tán huyết, giảm đau: Vào ngày trùng dương chọn 100 trái cà loại già, bỏ cuống đế, cắt ra làm 4, giã nhuyễn với 360g Tiêu thạch. Cứ một lớp cà rồi một lớp Tiêu thạch, sắp như thế nào cho tới khi hết, lấy giấy bịt kín nhiều lớp, để nơi sạch sẽ, trên dưới lấy gạch sạch kê lên và đậy xuống, đừng để cho phạm hơi đất, tới tháng giêng năm sau thì lấy ra phơi nắng, khi ấy cà đã nát bấy rồi, bỏ bã, lọc lấy nước cho vào hũ mới, lấy bông mỏng đậy trên miệng hũ rồi phơi tiếp cho tới khi cô lại thành cao là được. Mỗi lần uống nửa muỗng canh với rượu lúc bụng đói. Khi ứ huyết tan thì đau cũng giảm, khi cao khô cứng quá lấy nước cơm quậy đều để uống (Đồ Kinh Bản Thảo). Trị nhọt độc phát bối: Vào ngày trùng dương chọn 100 trái cà loại già, bỏ cuống đế, cắt ra làm 4, giã nhuyễn với 360g Tiêu thạch. Cứ một lớp cà rồi một lớp Tiêu thạch, sắp như thế nào cho tới khi hết, lấy giấy bịt kín nhiều lớp, để nơi sạch sẽ, trên dưới lấy gạch sạch kê lên và đậy xuống, đừng để cho phạm hơi đất, tới tháng giêng năm sau thì lấy ra phơi nắng, khi ấy cà đã nát bấy rồi, bỏ bã, lọc lấy nước cho vào hũ mới, lấy bông mỏng đậy trên miệng hũ rồi phơi tiếp cho tới khi cô lại thành cao là được. Mỗi lần uống nửa muỗng canh với rượu lúc bụng đói rồi lấy cao xức vào nơi chung quanh miệng nhọt thì có cảm giác lạnh như nước, chỗ lở khô miệng thì đỡ, nếu đâm cồi rễ sâu vào thì cũng có thể tiêu được (Đồ Kinh Bản Thảo). Trị lở sưng do nhiệt độc: dùng Cà sống 1 quả cắt làm 2 bỏ ruột, còn 2 cái vỏ úp trên chỗ lở sưng thì tiêu, nếu đã ra mủ thì dùng tiếp cho lành (Thánh Tế Tổng Lục). Trị lợi răng sưng đau: dùng xác quả Cà đã để cách một năm đốt cháy, đem bột xát vào luôn thì khỏi (Hải Thượng Phương). Trị sâu răng đau nhức: Cà già đốt thành than xức vào (Trích Huyền Phương). Trị họng sưng nghẹt đau đớn: dùng Cà già hoặc Cà làm tương nhai nát rồi nuốt nước từ từ (Đức Sinh Phương). Trị phụ nữ nứt vú: dùng loại cà vào mùa thu nứt ra đem phơi trong râm cho khô, đốt tồn tính, tán bột, hòa với nước bôi (Bổ Di Phương).
Trị nghiện rượu: Dung dịch nước sắc tai Cà tím có khả năng giúp trị được triệu chứng khó chịu khi người nghiện rượu bỏ rượu và triệu chứng ho khan ở người hút thuốc lá Ngâm 1–2 thìa cà phê bột tai Cà tím với 400ml nước sôi trong 20 phút. Uống lúc thuốc còn ấm mỗi ngày (Thuốc & Sức Khỏe 2003: 227). Trị nha chu viêm: Lấy tai Cà tím sao nhỏ lửa đến khi vàng hẳn (khoảng 94°C), dòn và tán bột được. Dùng 75g muối hột và 8g bột Rong biển, trộn chung và sao cho đến chín hẳn. Dùng bột này đắp lên nớu răng hoặc dùng bột này đánh răng mỗi buổi tối trước khi đi ngủ (Thuốc & Sức Khỏe 2003: 227).
CHỦ TRỊ TÁC DỤNG:
Tán huyết ứ, giảm đau, tiêu sưng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Thanh nhiệt, lương huyết, chỉ thống, tiêu thũng (Trung Dược Đại Từ Điển).
CHỦ TRỊ:
Khoan hung, tán huyết, chỉ khát (Y Lâm Toản Yếu). Hoạt huyết, chỉ thống, tiêu thũng, sát trùng, các loại hà sán (Tùy Tức Cư Ẩm Thực Phổ). Trị trường phong hạ huyết, mụn nhọt do nhiệt độc, da lở loét (Trung Dược Đại Từ Điển). Quả làm thức ăn có tác dụng lợi tiểu, thông mật, phòng ngừa chứng xơ vữa động mạch, Cuống hoa sắc uống trị tiểu ra máu, cầu ra máu. Hạt cũng có tác dụng lợi tiểu.
LIỀU LƯỢNG: 3–9g.
KIÊNG KỴ: Người hay bị ngứa không nên dùng (Trung Dược Học).
THAM KHẢO
Quả Cà dê bẩm tính âm địa, bên ngoài giống như dương hỏa, da đỏ thịt trắng là dương bọc lấy âm, hoa quả thơm tím. Vì vậy sách cổ ghi dùng nó để trị hàn nhiệt, ngũ tạng lao đồng thời có thể tán huyết giảm đau, thông ruột lợi khí, nhưng nó có vị ngọt, khí lạnh, chất hoạt mà lợi, dùng nhiều thì có động khí sinh ngứa lở và hại tới mắt, đau bụng, tiêu chảy, phụ nữ có thai ăn vào lại càng có hại, đó là loài rau TRANG 5 quả không bổ ích (Bản Thảo Cầu Chân).
Người bẩm chất hàn lạnh thì không nên dùng nhiều, làm tổn hại người và động tới khí, sinh ra ngứa và có bệnh (Mã Chí). Sau mùa thu ăn nhiều tới nó thì sẽ hại tới mắt (Lý Diên Phi). Cây Cà dê còn cho rễ gọi là Già căn, có vị ngọt, tính bình, có Tác dụng: Khu phong, tán hàn, giảm đau, dùng trong trường hợp viêm khớp do phong thấp mãn tính, viêm đa khớp dạng thấp, dùng rễ cà 3 lượng, 1 lít rượu trắng ngâm 3–5 ngày uống 2 lần, lần 10ml. Giảm đau, dùng trong nứt nẻ do lạnh, lở ngoài da, tím từng vùng, đau như cắt, phát ngứa, dùng rễ Cà 120g, sắc lấy nước rửa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Cây Cà dê còn cho đài núm của quả gọi là Già đế, đốt cháy uống với nước cơm, mỗi lần 6g, trị chứng tiêu ra máu, trĩ. Lý Thời Trân trong 'Bản Thảo Cương Mục' luận về núm quả Cà như sau: Khi dùng Gia đế thì phải đốt cháy để trị cho những người lở miệng, sâu răng, nếu dùng sống thì chà xát nó vào nơi chỗ bị xích bạch điếng rất hay (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Cây Cà dê cho cành lá khô và rễ gọi là Ngưu bàng căn sắc lấy nước cốt xức để trị chứng nứt nẻ do lạnh rất hay, Đời Minh, Lý Thời Trân dùng nó để tiêu tán được ứ huyết, huyết xuống lai rai, lỵ ra huyết, sâu răng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển). Ăn quả cà còn xanh non có nhiều solanin dễ gây đau nhức mỏi (lượng solanin giảm khi chín). Cà dái dê nướng có mùi thơm hấp dẫn do solanin (Món Ăn Bài Thuốc).

