Quế Chi

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Đường bản thảo

Tên khoa học: Ramulus Cinnamomae –-Cinnamomum casia Presl.

Họ khoa học: Long não (Lauraceae).

TÊN KHÁC

Liễu quế (Bản thảo biệt thuyết).

MÔ TẢ

  • Quế chi hình trụ, tròn, dài khoảng 33 – 66cm, đường kính 0,3 – 1cm, vỏ ngoài mầu đỏ nâu hoặc đỏ tím, có những nốt ruồi nhỏ, đường cạnh dọc và vân thuận và thường có vân ngang. Chất cứng và dòn, dễ bẻ gẫy. Mặt cắt mầu vàng đỏ, lớp ngoài mầu đỏ nâu, ở giữa mầu vàng nâu, mặt cắt của cành to mầu ngà, chất gỗ. Có mùi thơm đặc biệt, vị ngọt và hơi cay, phần vỏ có vị tương đối nồng đậm.
  • Việt Nam có nhiều loại quế: quế nổi tiếng nhất là Quế Thanh (Thanh Hóa, C.loureiri Nees) rồi đến Quế quy.
  • Vỏ quế bóc ở một cây phân chia ra nhiều loại tốt xấu khác nhau, và tác dụng khác nhau.
    • Quế hạ bản: lấy ở phần dưới thân. Thứ này hay giáng xuống mà ít bốc lên.
    • Quế trung châu: lấy ở phần giữa thân cây.
    • Quế thượng biểu: lấy ở phần trên cây. Hai thứ này có tác dụng bốc lên.
  • Quế chi: lấy ở cành cây, Quế chi tiêm lấy ở ngọn cành. Thứ này đi ra ngoài thân và chân tay.
  • Cách xem quế tốt xấu: có nhiều cách:
    • Cạo bỏ vỏ ngoài, mài với ít nước, nếu ra chất trắng như sữa bò là tốt nhất, nếu nước như nước chè xanh là loại hai, nếu nước đỏ là loại ba.
    • Nếm miếng quế thấy vị ngọt cay, sau thấy đắng, cuối cùng thấy ngọt (cay ít thôi) là quế tốt.
    • Gọt vỏ quế, cắt đôi, chỗ cắt trong như sáp, rất mịn và thấy có đường ‘bạch chỉ phân du’ là quế tốt. Sợi chỉ trắng này phải thẳng nếu ngoằn ngoèo là không tốt lắm.
  • Tây y cho quế tốt là phải có tỷ lệ tinh dầu cao. Nhưng nói chung quế khô, có mùi thơm, có chất dầu, vị cay hơi ngọt, vỏ hơi nâu không vụn nát, ẩm là tốt.
  • Trung Quốc có loại quế đơn, quế bì, còn gọi là quế nhục (C.cassia BL) cây này có mọc ở Việt Nam. Trên thị thường còn có quan quế hay quế xây lăng (C.Zeylanicum Nees) có giá trị nhất.

DƯỢC LÝ

  • Tán hàn giải cảm: Vỏ quế có tác dụng giải nhiệt, làm giảm mạch máu ở da, giúp giải nhiệt, làm ra mồ hồi.
  • Theo kinh nghiệm y học cổ truyền thì tác dụng của Quế chi chủ yếu là giúp các loại thuốc khác giải nhiệt, phát hãn tốt hơn, còn bản thân Quế chi thì tác dụng này yếu. Nếu phối hợp với thuốc thu liễm thì thuốc lại có tác dụng cầm mồ hôi (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Giảm đau: Thuốc tác dụng lên trung khu cảm giác ở não, nâng cao ngưỡng đau, thuốc có khả năng làm giãn mạch trong bệnh đau đầu do co thắt mạch, có thể làm dịu co thắt co trơn, làm giảm đau bụng (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trợ tiêu hóa (kiện vị): Thuốc làm tăng tiết nước miếng và dịch vị, giúp tiêu hóa (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trên ống nghiệm, cồn quế có tác dụng rõ rệt đối với tụ cầu trùng vàng, trực khuẩn thương hàn (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Tinh dầu quế có tính sát trùng mạnh (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
  • Tác dụng chống virút và nấm: Trong ống nghiệm, nước sắc Quế chi có tác dụng ức chế mạnh virút cúm và nấm gây bệnh (Sổ tay lâm sàng trung dược).

TÍNH VỊ:

  • Vị cay, ngọt, tính hơi ôn, không độc (Bản kinh phùng nguyên).
  • Vị ngọt, cay, tính ôn (Trung dược đại từ điển).
  • Vị cay, ngọt, tính hơi ôn (Đông dược học thiết yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh Phế (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Vào kinh Can, Thận, Bàng quang (Dược phẩm hóa nghĩa).
  • Vào kinh Bàng quang, Tâm, Phế (Trung dược đại từ điển).
  • Vào kinh Phế, Bàng Quang (Đông dược học thiết yếu).

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Khoảng tháng 3 – 7, cắt lấy cành non, bó thành bó khoảng 15 hoặc 30 – 100cm, phơi trong râm cho khô.

BỘ PHẬN DÙNG:

Cành non. Loại nhỏ và đều, mầu đỏ nâu, mùi thơm nồng là tốt.

BÀO CHẾ:

  • Theo Trung Y: Gọt sạch bì thô. Với thuốc thang thì mài với nước thuốc, làm thuốc hoàn tán thì tán bột (Trung dược học).
  • Sau khi nhúng ướt đều Quế chi, lấy bao cói quấn chặt lại rồi giội nước, khi nào nước ngấm thấu vào giữa cành là được, thái phiến phơi khô trong râm để dùng (Đông dược học thiết yếu).
  • Theo kinh nghiệm Việt Nam: Đối với quế thật tốt, chỉ mài trong bát sành với ít nước đun sôi để nguội, hoặc với ít nước thuốc thang để uống.
  • Làm nước hãm (quế thường): cạo bỏ bì thô, gọt thành miếng mỏng. Tẩm nước đồng tiện 1 – 2 ngày đêm (để giáng hỏa vì nóng quá xông lên hại mắt).
  • Cho miếng quế đã tẩm vào cái chén có nắp, đổ nước sôi vào rồi róc ngay ra bỏ đi, cho vào nước sôi khác, lần này để ngấm nguội rồi mới lấy ra uống. Uống lần sau pha với nước khác mà dùng. Một lượt vỏ quế như thế có thể pha 2 – 3 lần.

BẢO QUẢN:

Để tránh mất hương vị của quế, trát sáp mật ong vào hai đầu thanh Quế, dùng giấy bóng kính gói kỹ, đựng vào thùng kín. Để nơi khô ráo, kín, mát, tránh nơi ẩm.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị cảm mạo phong hàn, đau đầu, đau toàn thân, sợ lạnh: Quế chi 12g, Bạch thước 12g, Chích thảo 3g, Sinh khương 12g, Đại táo 4 quả, sắc nước uống (Quế chi thang – Thương hàn luận).
  • Trị đau bụng do cảm hàn: Quế chi 8g, Bạch thược 16g, Chích thảo 4g, Sinh khương 12g, Đại táo 4 trái, đường phèn 30g. Sắc, bỏ bã, cho đường vào, uống lúc nóng (Tiểu kiến trung thang – Thương hàn luận).
  • Trị phong thấp đau các khớp không sốt: Quế chi 12g, Phụ tử 12g, Cam thảo 8g, Sinh khương 12g, Đại táo 3 quả, sắc uống (Quế chi phụ tử thang – Thương hàn luận).
  • Trị phụ nữ đau bụng kinh do ứ huyết, thai chết lưu, bụng dưới có khối u, tắt kinh: Quế chi, Phục linh, Đơn bì, Bạch thược, Đào nhân, mỗi thứ 8g, sắc uống hoặc tán bột mịn làm hoàn (Quế chi phục linh hoàn – Thương hàn luận).
  • Trị viêm phế quản hoặc hen phế quản mãn tinh nhiều đàm: Bạch linh 12g, Bạch truật 8g, Quế chi 8g. Cam thảo 4g sắc nước uống (Linh quế truật cam thang – Thương hàn luận).
  • Trị u xơ tử cung: Quế chi, Đào nhân, Xích thược, Hải tảo, Mẫu lệ, Miết giáp, mỗi thứ 160g, Phục linh Mẫu đơn bì, Quy vĩ, mỗi thứ 240g, Hồng hoa 100g, Nhũ hương, Một dược, Tam lăng, Nga truật mỗi thừ 80g, tất cả tán bột mịn, luyện mật làm hoàn, mỗi lần uống 10 –12g, ngày 2–3 lần (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị phù: Bạch linh, Bạch truật, Trư linh mỗi thứ 12g, Trạch tả 16g, Quế chi 4g, tán bột mịn mỗi lần uống 8–12g hoặc làm thuốc sắc (Ngũ linh tán – Lâm sàng thường dụng trung dược thủ sách).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Ôn kinh, thông mạch, phát hãn, giải cơ (Bản thảo bị yếu).
  • Ôn trung, hành huyết, kiện Tỳ, táo Vị, tiêu thũng, lợi thấp. Trị tay chân tê lạnh, gân cơ co rút, đau nhức (Bản thảo tái biên).
  • Chuyên đi vào vùng vai, cánh tay, có thể đưa thuốc đến chỗ đau để trừ đờm ngưng, huyết trệ ở các khớp (Dược phẩm hóa nghĩa).
  • Phát hãn, giải cơ, ôn kinh, thông mạch. Trị phong hàn biểu chứng, vai lưng đau, các khớp đau, ngực đau, có đờm ẩm, bế kinh, trưng hà (Trung dược đại từ điển).

KIÊNG KỴ:

  • Người bị âm hư, các bệnh về huyết, không được dùng lầm (Bản thảo tùng tân).
  • Âm hư, huyết thiếu, vốn có bệnh về huyết, bên ngoài không có hàn tà, dương khí nội thịnh bên trong, loại đó không được dùng (Đắc phối bản thảo).
  • Bệnh ôn nhiệt, âm hư dương thịnh, bệnh về huyết, phụ nữ có thai: không dùng (Trung dược đại từ điển).

LIỀU DÙNG:

4 – 12g.

THAM KHẢO

  • Quế chi khí vị đều nhẹ cho nên có thể đi lên, phát tán ra phần biểu (Dụng dược tâm pháp).
  • Ma hoàng đi khắp suốt da lông cho nên chuyên dùng cho ra mồ hôi mà tan hàn tà. Phế chủ da lông, vị cay đi vào Phế vậy. Quế chi thấu suốt doanh vệ cho nên có thể giải cơ, khu phong tà. Tỳ chủ doanh, Phế chủ vệ, vị ngọt đi vào Tỳ, vị cay đi vào Phế (Bản thảo cương mục).
  • Quế chi tán phong hàn, trục biểu tà, đẩy tà ra mồ hôi, trị ho, là thuốc trị đau do phong ở các khớp. Khí vị tuy không tách rời cay nóng, nhưng vì thể của nó là cành nên chỉ có thể phát tán ở phần bì mao, cơ phu, các khớp bên ngoài cánh tay, khớp gối, chân (Bản thảo hối ngôn).
  • Quế chi, khí và vị đều nhẹ, cho nên có thể giải biểu, tán tà. Các chứng thương phong, thương hàn có mồ hôi thì dùng để giải nhẹ biểu tà, tà hết thì mồ hôi tự hết chứ không phải là giữ vững phần biểu để cầm mồ hôi. Trong sách Bản thảo nói
  • Quế phát hãn, mà Trương Trọng Cảnh trị bệnh thương hàn lại dùng Quế lúc đang có mồ hôi. Lại nói rằng không có mồ hôi thì không được uống Quế chi, mồ hôi nhiều thì dùng Quế chi cam thảo thang, đó là dùng Quế để cầm mồ hôi. Một vị thuốc mà có hai cách dùng, là thế nào? Sách Bản thảo nói Quế vị cay, ngọt, có khả năng thông mạch, làm ra mồ hôi, đó là điều được huyết thì mồ hôi tự ra. Còn Trọng Cảnh nói bệnh thái dương nóng không có mồ hôi là phần vinh yếu, phần vệ khỏe, âm đã hư thì dương lấn vào, vài thế phải dùng Quế chi để cho ra mồ hôi, hòa được phần vinh thì phần vệ tự lợi, tà không còn chỗ dung thân rồi mồ hôi tự ra mà giải được, chứ không phải Quế chi có khả năng làm mở lỗ chân lông, thớ thịt để làm mồ hôi ra. Mồ hôi ra nhiều mà dùng Quế chi là dùng nó để điều hòa vinh vệ, thì tà khí sẽ theo mồ hôi ma thoát ra, thế là mồ hôi mới hết được, chứ không phải là Quế chi cầm được mồ hôi. Người không thông hiểu y lý, không biết được ý tứ của cổ nhân, gặp bệnh thương hàn không có mồ hôi cũng cứ dùng Quế chi là rất sai” (Dược phẩm vận yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search