Xuất xứ: Bản kinh
Tên khoa học: Glehnia liloralis F.S
Họ khoa học: Hoa tán (Umbelliferae).
TÊN KHÁC
Tri mẫu (Bản kinh), Khổ tâm, Chỉ mỹ, Hổ tu, Bạch sâm, Chí thủ, Văn hổ (Ngô Phổ bản thảo), Văn hy (Biệt lục), Dương bà nải (Bản thảo cương mục), Nam sa sâm (Bản kinh phùng nguyên), Linh nhi sâm (Đắc phối bản thảo), Phạm sâm (Trung dược hình tính kinh nghiệm giám biệt pháp), Phan sa sâm (Tứ Xuyên trung dược chí).
MÔ TẢ
Cây thảo sống lâu năm, rễ mềm, mọc thẳng, dài khoảng 15–25cm, màu vàng nhạt. Mỗi gốc có thể mọc ra 2 hay 3 thân bò hình sợi dài. Thân bò chia làm nhiều đốt, mỗi đốt dài khoảng 20–30cm. Ở mỗi đốt lại có rễ ăn xuống đất, và từ đó có lá mọc lên. Lá mọc ở gốc xếp thành hoa thị, dài khoảng 5,8cm xẻ lông chim gồm 7–8 thùy, các thùy dưới thon lại thành cuống, mép lá có răng cưa thưa, không đều trông giống lá cải Cúc hay Bồ công anh. Hoa tự hình đầu, màu vàng, mọc ở đốt và ở gốc, cuống hoa tự ngắn, mọc đơn độc hoặc thành ngù ít hoa. Đầu hình trụ, gồm toàn hoa hình lưỡi nhỏ màu vàng; lá bắc của tổng bao xếp thành 2 dãy, dãy ngoài ngắn, dãy trong dài. Quả bế hình trụ, đầu hơi thon, dài 4mm, có chùm lông sớm rụng. Sa sâm hình trụ tròn, nhỏ dài, đoan giữa hơi có hai đầu nhỏ, dài 2 – 3cm, đường kinh 0,15 – 1,5cm. Mặt ngoài mầu trắng, vàng nhạt, hơi sù sì, toàn bộ có vân nhăn dọc nhỏ hoặc trắng vàng, đầu rễ nhọn dần, cỡ nhỏ có khi còn mang gốc thân mầu vàng nâu.
Chất đặc nhưng dòn, dễ bẻ gẫy, mặt cắt ngang mịn, ở giữa có tâm tròn mầu vàng. Không mùi, vị ngọt.
DƯỢC LÝ
- Cồn chiết xuất Sa sâm trên thỏ thực nghiệm có tác dụng hạ sốt (Chinese Hebral Medicine).
- Thuốc có tác dụng làm tăng miễn dịch (Chinese Hebral Medicine).
- Trên súc vật thực nghiệm chứng minh thuốc có tác dụng hóa đờm nhẹ (Trung dược ứng dụng lâm sàng).
- Dịch chích Sa sâm 1% đối với cóc, thấy có tác dụng cường tim, tác dụng có thể kéo dài 5 phút (Giang Tô tân y học viện, Trung dược đại từ điển 1977: 1560).
TÍNH VỊ:
- Vị đắng, hơi hàn (Bản kinh).
- Vị ngọt hơi đắng, là thuốc của kinh Quyết âm, là thuốc vào phần khí của Tỳ kinh (Bản thảo cương mục).
- Vị ngọt, tính bình, hơi hàn (Trấn nam bản thảo).
- Vị ngọt, đắng, tính hơi hàn (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Phế (Trấn nam bản thảo).
- Vào kinh Phế, Can (Dược phẩm hóa nghĩa).
- Vào kinh Phế, Vị (Đông dược học thiết yếu).
ĐỊA LÝ:
Mọc ở bờ biển các tỉnh Hà Nam Ninh, Thanh Hóa, Nghệ Tĩnh, Bình Trị Thiên.
BỘ PHẬN DÙNG:
Rễ. Thứ nhỏ, dài, đều đặn, hình trụ tròn, chất đặc, chắc, mầu trắng, vị ngọt là tốt. Thứ sợi thô, chắc, xốp, mầu vàng nâu là kém, như sợi nhỏ chưa bóc vỏ ngoài thì không nên dùng.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Mùa thu đào về, bỏ phần trên mặt đất và rễ con, rửa sạch đất, phơi qua, nhúng vào nước sôi rồi bóc vỏ, phơi khô hoặc sấy khô là được.
BÀO CHẾ:
- Theo Trung Y: Nhặt bỏ tạp chất, bỏ đầu cuống, rửa sạch, ủ mềm, cắt ra từng đoạn ngắn, phơi khô dùng.
- Theo kinh nghiệm Việt Nam: Không được rửa, bẻ đoạn ngắn, dùng sống. Có khi tẩm gừng sao qua (Phế hàn) (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
BẢO QUẢN:
Dễ mọt, cần tránh nóng, ẩm. Để nơi khô ráo, mát trong lọ có chất hút ẩm. Không nên phơi nắng nhiều.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị táo hỏa tổn thương phần âm của Phế, Vị, hoặc nhiệt hoặc ho: Sa sâm, Mạch môn, Ngọc trúc, Sinh cam thảo, Đông tang diệp, Sinh biển đậu, Thiên hoa phấn, sắc với 5 chén nước còn 2 chén, ngày uống hai lần (Sa sâm mạch đông thang – Ôn bệnh điều biện).
- Trị ho do Phế nhiệt: Sa sâm 15g, sắc uống (Vệ sinh dị giản phương).
- Trị chi khí quản viêm mạn, ho, khó khạc đờm ra, miệng khô: Sa sâm 9g, Mạch môn 9g, Cam thảo (sống) 6g, Ngọc trúc 9g. Sắc uống (Thanh đảo trung thảo dược thủ sách).
- Trị các chứng hư: Sa sâm 30g, Gà ác 1 con (bỏ ruột). Cho Sa sâm vào bụng gà, hầm cho nhừ ăn (Trấn nam bản thảo).
- Trị răng đau do hư hỏa: Hạnh diệp sa sâm căn 15 – 60g, chưng với trứng gà, uống (Hồ Nam dược vật chí).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Chủ huyết tích, kinh khí, trừ hàn nhiệt, bổ trung, ích Phế khí, uống lâu có lợi (Bản Kinh).
- Bổ hư, chỉ kinh phiền, ích Tâm Phế. Trị các loại nhọt độc, da lở loét, cơ thể ngứa, bài nùng, tiêu thũng độc (Nhật hoa tử bản thảo).
- Bổ Phế khí và âm khí của lục phục ngũ tạng (Trấn nam bản thảo).
- Nam sa sâm thanh Phế hỏa. Bắc sa sâm dưỡng Vị âm. Nam Sa sâm trị Phế hư ho nhiệt, hoặc ho lâu thành lao phổi. Bắc sa sâm trị Vị hư nhiệt người gầy, hoặc chân bị liệt không cất lên được (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
- Tạng phủ không có thực nhiệt, Phế hư hàn gây nên ho, kiêng dùng (Bản thảo kinh sơ).
- Nếu không phải Phế và Vị hư mà lại thuộc về ho lạnh đờm thấp thì cấm dùng (Đông dược học thiết yếu).
- Ghét vị Phòng kỷ, phản với vị Lê lô (Bản thảo tập chú).
LIỀU DÙNG:
Uống trong 10 – 15g. Dùng tươi 15 – 30g.
THAM KHẢO
- Sa sâm hơi đắng, hơi lạnh, lấy bổ âm, thanh Phế làm công dụng, vì vậy ho lâu ngày, Phế suy yếu, mạch bộ thốn bên tay phải Sác, Thực dùng sẽ thích hợp. Tuy nhiên thể chất của nó nhẹ, rỗng, tính hoãn, chậm, không phải là vị thuốc dùng cho trường hợp bệnh nặng vậy (Bản thảo đồ giải).
- Sa sâm vị ngọt, đắng mà nhạt, tính lạnh, thể nhẹ, vì vậy có thể vào Phế mà tiết nhiệt, tả Phế hỏa. Phàm người ho lâu ngày, Phế suy yếu, kim bị hỏa khắc, dùng Sa sâm rất phù hợp. Vì nhiệt nung nấu, không dùng loại có vị ngọt, đắng, nhẹ, nhạt thì không ức chế được hỏa nung nấu, vì vậy, ho nhờ đó mà ngừng. Nếu do lạnh trú ở trong phổi gây ho, đừng nên liều dùng. Vì ho do lạnh gây nên, lại cho dùng thêm vị lạnh, mát, chẳng khác nào làm cho lạnh thêm sao? Có sách nói Sa sâm có tác dụng bổ Phế, dưỡng Can, ích Tỳ Thận, đều là theo ý Phế con hư làm mẹ bị liên hệ, xét rằng uống vị này Phế không bị khắc, con và mẹ đều yên thì Can cũng không bị lây mà mọi tạng đều yên hòa vậy. Khổng phải là tự nó có tác dụng bổ âm vậy. Nói chung, sách nói đến việc bổ tả phần nhiều là như vậy, không phải chỉ có vị Sâm mới như thế. Sa sâm nhìn giống như Nhân sâm nhưng thể của nó nhẹ, rỗng, mầu trắng, là loại tốt. Mọc ở vùng đất cát thì dài, to, mọc vùng có đất sét thì gầy mà nhỏ (Bản thảo cầu chân).
- Nhân sâm vị ngọt, đắng, tính ấm, thể nặng, thực, chuyên bổ nguyên khí của Tỳ Vị, do đó mà ích Phế và Thận. Vì thế, người bên trong nguyên khí bị bị tổn thương nên dùng. Sa sâm vị ngọt, nhạt mà hàn, thể của nó nhẹ, rỗng, chuyên bổ Phế khí, do đó cũng ích Tỳ, Thận, vì thế, nếu kim có thể bị hỏa khắc thì nên dùng. Một bổ dương mà dinh âm, một bổ âm mà sinh dương, không thể không biện rõ (Bản thảo cương mục).
- Nam sa sâm rỗng, xốp, khí vị nhẹ, mát. Bắc sa sâm cứng mà gầy, giàu chất dịch béo. Một vị thì thiên về thanh Phế, một vị thì thiên về dưỡng Vị. Đối với người Phế hư có dư nhiệt mà sinh ho thì nên dùng Nam sa sâm. Đối với người Vị hư không có dư nhiệt mà sinh ho thì nên dùng Bắc sa sâm (Đông dược học thiết yếu).
- Sa sâm chính thức nhập của Trung Quốc là rễ phơi khô của cây Glehnia littoralis F. Schmidt (Phellopteris littoralis Benth.) thuộc họ Hoa tán (Apiaceae).
- Ở Việt Nam còn có 2 loại Sa sâm nữa là rễ cây Adenophora verticillata Fisch. hay Adenophora tetraphylla (Thunb.) Fisch. họ Hoa chuông (Campanulaceae). Theo tài liệu cũ cây này đều mọc ở Việt Nam, Lào, Cămpuchia, nhưng tới nay chưa có ai phát hiện được. Rễ cây Wahlenbergia gracilis AD C. hay Campanula vicaeflora Vent. thuộc họ Hoa chuông (Campanulaceae) mọc rất phổ biến ở các ruộng Hà Bắc. Cây này còn gọi là Tế Diệp Sa sâm hay Lan hoa sâm (Dược Liệu Việt Nam).

