Xuất xứ: Lôi Công bào chích luận
Tên khoa học: Radix Peucedani.
Họ khoa học: Hoa tán (Umbelliferae).
MÔ TẢ
Là rễ khô của cây Tiền hồ hoa trắng (Peucedaum praerutorum Dunn) hoặc của cây Tiền hồ hoa tía (Peucedaum decursivum). Rễ hình trụ tròn, hình dùi tròn hoặc hình thoi không đều, trên to, dưới nhỏ, thân rễ tương đối ngắn, hơi cong, phần dưới có phân chi, dài 3–13cm, đường kính 1 – 3cm. Mặt ngoài mầu nâu đen hoặc vàng tro, đầu rễ có vết thân cây và chưa bỏ sạch lông. Phía trên mọc dầy vân vòng quanh, thường hóa thành mầu đen. Phía dưới có đường rạch dọc và vân nhăn dọc, mầu nhạt hơn và có vết rễ cùng nốt u nhỏ. Chất cứng, khó bẻ gẫy, chỗ gẫy mầu trắng vàng, không phẳng, quanh rìa mầu trắng sữa, lớp trong có vòng tròn mầu vàng, giữa ruột có vân hoa cúc mầu trắng vàng nhạt. Mùi thơm, vị hơi đắng, cay (Dược tài học).
DƯỢC LÝ
- Tiền hồ có tác dụng hóa đàm nhưng chưa thấy tác dụng giảm ho (Trung Dược Học).
- Bạch hoa Tiền hồ tố C có tác dụng tăng lưu lượng máu của động mạch vành. Các nhà nghiên cứu cho là một loại giãn động mạch vành có chọn lọc. Tiền hồ còn có tác dụng ức chế ngưng tập tiểu cầu ở người (Trung Dược Học).
- Nước sắc Tiền hồ có tác dụng kháng virus cúm và hoạt tính của nấm (Trung Dược Học).
- Dịch chiết Tiền hồ có tác dụng an thần (Trung Dược Học).
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt hơi đắng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vị ngọt, cay (Dược Tính Bản Thảo).
- Vị đắng, cay, tính hàn (Trấn Nam Bản Thảo).
- Vị đắng, tính hơi hàn (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh thủ Thái âm Phế, túc Thái âm Tỳ, thủ Dương minh Đại trường, túc Dương minh Vị (Bản Thảo Cương Mục).
- Vào kinh Phế, Tiểu trường (Bản Thảo Kinh Sơ).
- Vào kinh Phế, Can, Tỳ, Bàng quang (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vào kinh Phế, Can, Tỳ (Đông dược học thiết yếu).
ĐỊA LÝ:
Chưa thấy có ở Việt Nam, còn phải nhập.
BỘ PHẬN DÙNG:
Rễ. Thứ nguyên vẹn, thân dài, chất cứng, chỗ gẫy mầu trắng vàng, mùi thơm nồng là tốt.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Đào vào mùa đông hoặc xuân, lúc cây lá héo khô. Rửa sạch, bỏ rễ con, phơi hoặc sấy khô.
BÀO CHẾ:
Theo Trung Y: Rửa sạch, ủ mềm, thái lát, phơi khô. Khi dùng hòa mật ong và nước tẩm đều, sao cho không dính tay là được (1kg Tiền hồ dùng 200g mật ong) (Lôi công bào chế dược tính giải).
Mật Tiền hồ: Thái lát Tiền hồ, cho mật ong và ít nước sôi vào, trộn đều, ủ qua, cho vào nồi đun nhỏ lửa, sao cho không dính tay là được, lấy ra để nguội (cứ 50kg Tiền hồ dùng 10kg mật ong).
Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, ủ mềm đều, bào hoặc thái mỏng, phơi hoặc sấy khô (Phương pháp bào chế đông dược).
Cạo bỏ lớp vỏ mỏng xanh đen, rửa sạch đất cát, ngâm một lát rồi ủ lại, khi nào trong ruột mềm đều là được, thái phiến, phơi khô, dùng sống (Đông dược học thiết yếu).
BẢO QUẢN:
Dễ mốc, mọt nên cần để nơi khô ráo, kín, thỉnh thoảng đem phơi nắng nhẹ.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị trong ngực có khí chướng đầy, ngăn nghẹn, hơi thở ngắn: Tiền hồ 45g, Xích phục linh (bỏ vỏ đen) 60g, Chích thảo 30g, Hạnh nhân 27 hột (ngâm nước, bỏ vỏ và đầu nhọn, sao). Tán bột. Mỗi lần dùng 9g, sắc uống ấm, lúc đói (Tiền hồ thang – Thánh tế tổng lục).
- Trị ho, đờm mầu vàng, tức ngực, khó thở: Tiền hồ, Tang bì, Mạch môn, Hạnh nhân đều 10g, Bối mẫu 6g, Cam thảo 3g, Gừng 3 lát, sắc uống (Tiền Hồ Tán – Chứng Trị Chuẩn Thằng).
- Trị đờm thực, sốt cao, vùng ngực bế tắc, ho, suyễn thở, khí nghịch lên, phiền khát: Tiền hồ, Chỉ xác, Xích phục linh, Chích cam thảo, Đại hoàng (chưng, hấp với rượu). Mỗi lần dùng 9g, sắc uống ấm (Tiền hồ chỉ xác thang – Chứng trị chuẩn thằng).
- Trị có thai bị thương hàn, đầu đau, sốt cao: Tiền hồ, Hoàng cầm (bỏ lõi đen), Thạch cao, A giao (đun cho chảy ra) đều 30g. Chặt nhỏ, mỗi lần dùng 12g, sắc uống ấm (Tiền hồ thang – Phổ tế phương).
- Trị viêm đường hô hấp trên (họng viêm, amiđan viêm...) thể phong nhiệt: Tiền hồ, Bạc hà, Cát cánh đều 6g, Ngưu bàng tử, Hạnh nhân đều 10g, sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị cảm, đau đầu: Tiền hồ, Kinh giới, Bạch chỉ đều 10g. Sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Khư đàm, ha khí, trị thương hàn, hàn nhiệt, đàm mãn, hung hiếp trung bỉ, tâm phúc kết khí, phong đầu thống (Biệt Lục).
- Trị thực nhiệt, thời khí, sốt (Bản Thảo Cương Mục).
- Giáng khí, trừ đờm, tuyên tán phong nhiệt. Trị đờm trọc ủng tắc ở Phế gây nên ho suyễn, ngoại cảm phong nhiệt (Trung Dược Học).
- Tán phong, thanh nhiệt, tiêu đờm, hạ khí. Trị ho do phong nhiệt xâm nhập Phế, vùng ngực sườn nhiều đờm, hoặc vùng ngực bị khí kết tụ, hoặc đờm bế tắc, ho suyễn, chỉ có người thuộc chứng Phế nhiệt, Phế thực mới có thể dùng được (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
- Nếu ngoài không cảm tà khí, trong không có thực nhiệt thì cấm dùng (Đông dược học thiết yếu).
- Sợ vị Tạo giác, kỵ vị Lê lô (Bản thảo kinh tập chú).
- Âm hư hỏa vượng khiến cho phong khí động hoặc do ngoại cảm mà có đờm: không dùng (Bản kinh phùng nguyên).
- Khí hư bốc lên gây nên đầy chướng, bệnh mà bên ngoài có thực nhiệt: không dùng (Bản thảo cầu chân).
LIỀU DÙNG:
6–10g.
THAM KHẢO
- Tiền hồ có sở trường là hạ khí, vì vậy nó trị được đàm nhiệt ho suyễn, khí hạ thì đàm hỏa đều ngưng (Bản Kinh Phùng Nguyên).
- Tiền hồ thiên đi về kinh Thái âm để tuyên thông Phế khí, trị ngoại cảm phong tà, đi lên trước rồi sau mới đi xuống, Sài hồ thiên đi vào kinh Thiếu dương đề thư giãn Can khí, có thể hòa giải khu cơ (thần kinh trung khu), đi xuống trước rồi sau mới đi lên. Cho nên trong sách thuốc có ghi hai vị Sài hồ, Tiền hồ đều là thuốc trị phong. Sài hồ chủ yếu đi lên, Tiền hồ chủ yếu đi xuống, một vị đi lên, một vị đi xuống, mỗi vị đều có cách dùng khác nhau (Đông dược học thiết yếu).
- Hạnh nhân vị đắng, không cay, thiên về giáng Phế khí để tiêu đờm, bình suyễn. Tiền hồ vị đắng lại cay, thiên về khai thông Phế khí để tiêu đờm, bình suyễn. Một vị chủ yếu trị ở trong, một vị chủ yếu trị ngọn (ngoại cảm) (Đông dược học thiết yếu).
- Tiền hồ, Sài hồ hình dáng giống nhau nhưng Tiền hồ mầu trắng, chất mềm, Sài hồ mầu tím (tía), chất dòn (Đông dược học thiết yếu).

