Xạ Hương

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản kinh

Tên khoa học: Moschus moschiferus L.

Họ khoa học: Hươu (Cervidae).

TÊN KHÁC

Di hương, Tề hương, Tâm kết hương, Đương môn tử (Lôi Công Bào Chích Luận), Sinh hương (Bản Thảo Kinh Tập Chú), Xạ tể hương (Bản thảo cương mục), Tứ vị xú (Đông y bảo giám), Nguyên thốn hương (Dược Tài Học), Xú tử, Thố tử (Trung Dược Chí), Hương tể tử (Trung Dược Tài Thủ Sách).

MÔ TẢ

Hươu xạ là con vật có chân mảnh, cổ ngắn, đầu dài, mõm tròn. Có con lớn thân dài 0,8–1m, đuôi dài 4–5cm, vai cao khoảng 55–65cm, mông cao hơn vai, nặng khoảng 10–17kg, thân phủ lông mầu nâu hung. Con đực có răng nanh dài 8– 9cm, lòi khỏi mép, hướng xuống dưới rồi quặp về phái sau, con cái có nanh nhỏ hơn và không vượt khỏi mép. Con đực và cái đều không có sừng. Đặc biệt ở bụng hươu xạ đực vào khoảng giữa
rốn và cơ quan sinh dục có một túi tròn hơi phồng, dài 5–7cm rộng 3cm, cao 3–4cm. Quanh túi có lông mọc mau, phần giữa trụi lông có hai lỗ thông. Túi này dùng để chứa chất xạ hương do các tuyến của thành túi tiết ra. Ở con vật trưởng thành, túi chứa đầy xạ có thể nặng đến 60g và hơn. Xạ hương ở con vật sống quánh như mật ong, màu nâu đỏ, để khô chất xạ biến thành một khối lổn nhổn màu nâu hung rồi xám lại dần dần.

DƯỢC LÝ

  • Đối với hệ thần kinh trung ương: Liều nhỏ Xạ hương và chất muscone ceton Xạ hương có tác dung hưng phấn hệ thần kinh trung ương. Nhưng liều cao thì lại ức chế. Thuốc làm giảm rõ phù não, tăng sư thích nghi của hệ thần kinh trung ương đối với trang thái thiếu oxy, cải thiện tuần hoàn não. Nhờ các tác dung trên mà thuốc có tác dụng khai khiếu (tỉnh não) (Trung Dược Học).
  • Đối với hệ tuần hoàn, hô hấp: thuốc có tác dụng hưng phấn tim cô lập. Thuốc Xa hương 1mg/1m tưới vào tim cô lập của chuột giang làm cho lưu lượng máu của động mạch vành tăng gấp đôi. Ceton của Xạ hương nhân tạo hoặc thiên nhiên chích tĩnh mạch cho mèo được gây mê, có tác dụng nâng huyết áp và tăng tần số hô hấp (Trung Dược Học).
  • Tác dung kháng khuẩn và kháng viêm: 2% ceton Xạ hương dịch pha 1% loãng 1:400, in vitro có tác dụng ức chế tụ cầu vàng, trực khuẩn đai tràng (E coli), khuẩn thổ tả heo, thuốc còn có tác dụng kháng viêm trên mô hình gây viêm khớp cho chuột đồng (Trung Dược Học).
  • Tác dụng đối với tử cung: Thuốc có tác dụng hưng phấn rõ rệt đối với tử cung cô lập của thỏ nhà, chuột đồng và chuột Hà lan, tác dụng hưng phấn đối với tử cung có thai càng mạnh hơn (Trung Dược Học).
  • Tác dụng chống ung thư: thuốc có tác dụng ức chế tế bào ung thư, đối với các loại ung thư thực quản, ung thư tuyến bao tử, ung thư đại trường, ung thư bàng quang. Nồng độ cao tác dụng mạnh nhưng đối với ung thư tâm vị lại không có tác dung rõ rệt (Hiện Đại Trung Dược Học).
  • Trị bệnh mạch vành: Xa hương nhân tạo, làm thành viên lactose ngậm dưới lưỡi, trị cơn đau thắt ngực 160 ca. Trong 119 ca (74,4%) thuốc bắt đầu có tác dụng cũng nhanh như nitroglycerine, trong 27 ca (16–9%) tác dụng chậm hơn, số còn lại không có tác dung như nitroglycerin, dùng hơn 1 viên thì có ca có tác dụng có ca không. Về tác dụng phụ, chỉ có 3 ca có nôn nhẹ, không có đau đầu chóng mặt, không làm thay đổi mạch và huyết áp (Chinese Hebral Medicine).
  • Muscone ché thành thuốc phun sương và ngậm, dùng trị cho 367 ca đau thắt ngực, bệnh mạch vành. Kết quả tốt (Báo cáo của Trần Gia Thanh, tập kỷ yếu nghiên cứu thành phẩm Trung Dược 1981, 9: 31).
  • Dùng Xạ hương, Nha tạo, Bạch chỉ, chế thành cao dán, mỗi lần dán 2 miếng ở vùng đau trước tim và huyệt Tâm du, cứ 24 giờ thay 1 lần. Trị 287 ca, tỉ lệ kết quả 81,9%, kết qủa tốt 28,6% (Báo cáo của Ninh Tuyến, tạp chí Trung Tây Y Kết Hợp – 1988, 7: 409).
  • Trị bênh viêm gan mạn và xơ gan thời kỳ đầu: dùng dịch chích Xạ hương 5%, luân lưu chích vào 2 huyệt Chương môn, Kỳ môn 2 bên, mỗi lần 2ml, 1 tuần 1 lần, 4 tuần là một liệu trình. Trị 32 ca, kết quả tốt (Báo cáo của Từ Thừa Quy, Tạp chí Trung y Thiên Tân 1987, 5: 20).
  • Trị bong gân vùng eo lưng: Dùng dịch chích Xạ hương 0,2% chích vào A thị huyệt, điểm đau nhất. Mỗi lần 2–4ml, mỗi tuần 1 lần. 2 tuần là một liệu trình, theo dõi 21 ca kết quả tốt (Báo cáo của Triệu Hương Cương, báo Tân Trung Y 1985, 4: 26).
  • Trị bạch điếng phong: dùng dịch chích Xạ hương 0,4% chích dưới da vùng bệnh nhiều điểm, lượng tùy theo vùng bệnh to nhỏ. Một tuần 2 lần, 3 tháng là một liều trình, thường là 2–3 liệu trình Theo dõi 78 ca, tỉ lệ kết quả 83:33% (Liêu Tuy Lâm và cộng sự, Hồ Nam Y Học Viện Học Báo 1980, 2: 157).
  • Trị nhau thai không ra, thai chết lưu: Hương Quế Tán: Xạ hương 0,15g, Nhục quế 1,5g, tán bột, chia làm 2 lần, uống với nước nóng (Hiện Đại Trung Dược Học).

TÍNH VỊ:

  • Vị cay, tính ôn (Bản Kinh).
  • Không độc (Danh Y Biệt Lục).
  • Vị đắng cay (Dược Tính Bản Thảo).
  • Vị cay, tính ôn (Trung Dược Học).
  • Vị cay, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

  • Vào 12 kinh (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
  • Vào kinh túc Thái âm, thủ Thiếu âm (Bản Thảo Hội Ngôn).
  • Vào kinh Tâm, Can (Bản Thảo Tái Tân).
  • Vào kinh Tâm, Can, Tỳ, thông suốt 12 kinh (Trung Dược Học).
  • Vào kinh Tâm, Tỳ, thông 12 đường kinh (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ:

Hươu xạ chủ yếu sống ở vùng rừng núi cao khoảng 1000 – 2000 mét, có khi đến 1000 mét (Tây Tạng), thường ở những nơi vách núi cheo leo nguy hiểm. Hươu ít khi ra khỏi rừng, chỉ thỉnh thoảng mới xuống khe hay suối. Ban ngày hươu xạ ẩn trong bụi cây, chiều tối mới đi ăn. Thức ăn của hươu xạ thay đổi tùy địa phương, tùy mùa và rất ảnh hưởng đến chất lượng của xạ hương. Chủ yếu nó ăn rêu, địa y, lá cây, cỏ. Hươu xạ sống đơn độc, chỉ sống với nhau vào mùa động đực. Cũng chính vào thời kỳ động đực này, hươu xạ tỏa ra mùi xạ nồng nặc bay xa hàng trăm thước. Hươu xạ có thai khoảng 5 tháng, đẻ 1 – 2 con và thọ độ 3–4 tuổi. Hươu xạ chạy rất nhanh, nhảy và leo nhanh nhẹn. Hươu xạ nhút nhát, đa nghi, dễ hoảng hốt khi bị săn đuổi, cho nên việc săn bắt cũng đòi hỏi một số kinh nghiệm. Việc nuôi hươu xạ để lấy xạ còn rất ít kinh nghiệm.

Hươu xạ tại Việt Nam ít được khai thác. Hươu xạ là một nguồn lợi lớn của Trung Quốc, Ấn Độ và vùng Á Đông, miền nam Liên Xô cũ. Hằng năm thị trường phương tây tiêu thụ chừng 10 vạn túi xạ. Phần lớn người ta giết thịt hươu xạ để lấy túi xạ hương.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Khi bắt được hươu xạ, người ta xẻo ngay lấy chỗ hạch nói trên, thường xẻo rộng hơn một chút rồi treo trong nhà cho đến khi khô, có khi người ta rang cát cho nóng (tay còn chịu được) đổ xung quanh lúi xạ, cát nguội lại rang, tiếp tục làm cho đến khi khô. Sau đó cất vào hộp đậy kín. Thường 50 đến 65% trọng lượng của túi xạ là trọng lượng xạ hương nguyên chất.

BỘ PHẬN DÙNG:

Túi xạ.

  • Xạ hương nguyên chất là một thứ bột lổn nhổn có màu nâu tro. Vị hắc mùi rất hăng nếu ngửi nhiều, nhưng nếu pha thật loãng thì rất thơm. Khi thật khô thường kém thơm, nhưng khi ẩm, mùi thơm thường dậy lên. Xạ hương tan vào nước chừng 55% trọng lượng, nước có màu nâu sẫm, phản ứng axit, với cồn 90° xạ hương chỉ tan chừng 10–13% trọng lượng. Cồn có màu vàng nâu, thêm nước vào sẽ bị đục. Đốt có mùi amoniac, lượng tro từ 4 đến 6%, không được quá 8%.
  • Xạ hương là một chất đặc lổn nhổn do hạch ở sát dương vật của một thứ cầy hương đực (có người còn gọi là hươu xạ) từ 3 tuổi trở lên (Moschus moschi–ferus L) họ Hươu xạ (Moschida). Con cầy hương giống con cầy cao chừng 50 cm, dài 80 – 90cm, toàn thân màu vàng gio. Nó sống bằng những cây cỏ thơm, vì vậy người ta cho rằng nguồn gốc xạ là ở các cỏ thơm đó. Đi đến đâu nó tiết xạ để nhớ đường về.
  • Túi xạ ở phía bụng, khoảng 2cm trước chỗ bìu dái và trước dương vật. Hình dạng túi xạ thay đổi, khi thì hình tròn, khi thì dẹt trên phủ lông như những lông khác ở bụng con cầy hương; túi xạ có một điểm sâu, đường kính chừng 5mm, tất cả lông trông như đều hướng về điểm này.
  • Ngoài ra ở Việt Nam ta còn có loài cầy hương khác (Vicerricula malaccensi Gmelin) và cầy giông (Viverrazibetha, họ Viverridae), cũng có túi thơm nhỏ, người ta cũng lấy chế biến và gọi là xạ. Thứ xạ này không thơm và không tốt bằng xạ hương nói trên.
  • Thứ xạ thật giả theo kinh nghiệm nhân dân: Xạ thật có mùi thơm xộc ngay vào mũi, thơm lâu.
    • Dùng móc lấy ráy tai cho vào trong túi xạ lấy ít xạ cho vào ngay mà vê, xạ thật thì nhiều đàn tính, mềm nhũn, viên lại thành tròn, bóp bẹp thành bột; thứ giả thì viên lại thành dài, không có đàn tính.
    • Lấy chút ít xạ hương cho vào nước sôi một chốc lấy ra, xạ thật thì bã nó thơm mãi, thứ giả không thơm mà lại hôi.
    • Phân biệt nguyên cả miếng xạ hương còn cả da, có thể dùng kim xăm vào thử xem có khối chắt cứng hoặc khối thịt. Nếu có vật cứng tức là họ cho chì vào để thêm nặng cân..
    • Dùng sợi chỉ tơ tẩm vào nước hành tanh, lấy sợi chỉ đỏ xâu vào trôn kim, lấy kim xuyên qua túi xạ, xạ thật thì sợi chỉ không còn mùi tanh, thứ giả thì mùi tanh của hành mất đi rất ít.
    • Lấy chút ít xạ hương để trên miếng sắt mà đốt, thì thấy cháy xèo xèo như đốt tóc tỏa mùi thơm mà không có mùi khét, toàn bộ cháy gần hóa ra tro, hoặc còn lại cũng rất ít, xạ giả chất than còn lại rất nhiều.
    • Những thứ trộn lẫn vào xạ hương, phần nhiều hay lẫn thứ huyết khô, miếng thịt khô thái vụn hoặc bột chì hoặc đất cát trộn vào, nếu cho Xạ hương ấy vào than đỏ mà đốt thì khối thịt, huyết khô mà cháy thì khét, chất chì thì không cháy, đất cát còn lại.

TÊN THUỐC:

Moschus.

BÀO CHẾ:

Muốn lấy chất xạ hương trong túi, có nhiều cách:

  • Có khi người ta ngâm khăn vải vào nước ấm vài phút rồi dùng khăn ẩm đó bọc kín túi xạ làm cho túi xạ mềm mại, sau đó cắt bỏ da thịt, lấy chất xạ hương mà dùng.
  • Có nơi lấy dùi sắt nung đỏ, lăn trên mặt túi xạ cho cháy hết lông, cạo hết lượt da ngoài (có khi để nguyên), thái mỏng, đặt lên đĩa, úp một cái bát lên, trát kín mép đĩa và bát bằng lá khoai sọ và cám hay đất dẻo. Đặt bát này vào nồi rang có chứa tro., đun nóng nhẹ. Muốn cho không nóng quá thường người ta đặt trên cái trôn bát một lá trầu không. Đun lâu và giữ cho lá trầu không bị héo vàng. Làm như vậy cho đến khi khô. Mở bát ra, tán nhỏ, cho vào lọ nút kín, dùng dần.

BẢO QUẢN:

Cần để vào lọ thật kín, để nơi khô ráo, tránh nóng ẩm làm mất mùi thơm. Cũng cần để xa các chất có mùi thơm khác như Băng phiến, Bạc hà dễ bị bắt mùi.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị trẻ nhỏ bị cam gầy mòn, mặt vàng, tóc dựng đứng, biếng ăn, da nóng, sài giật, động kinh, thấp ngược, chứng cam giun và cam lỵ: Xạ hương, Lô hội, Hồ hoàng liên. Tán nhỏ, trộn đều, rẩy nước làm viên như hạt gạo
    to, uống với nước nóng (Xạ hương hoàn – Nguyên Hòa Kỷ Dụng Kinh Phương).
  • Trị có thai bị kinh giản, ngủ không yên: Bạch phụ tử 10g, Cương tằm 10g, Ngưu hoàng 10g, Tằm với 10g, Toàn yết 21 con, Xạ hương 10g. Tán bột, trộn với mật ong cho sền sệt như cao. Mỗi lần dùng 8 – 12g với nước sắc Kinh giới và Nhân sâm (Xạ hương cao – Chứng trị chuẩn thằng).
  • Trị bệnh mạch vành: Xạ hương nhân tạo làm thành viên lactose ngậm dưới lưỡi, trị cơn đau thắt ngực 160 ca. Trong 119 ca (74,4%) thuốc bắt đầu có tác dụng cũng nhanh như nitroglycerine. Trong 27 ca (16,9%) tác dụng chậm hơn, số còn lại không có tác dụng như nitroglycerine, dùng hơn 1 viên thì có ca có tác dụng, có ca không. Về tác dụng phụ, chỉ có 3 ca có nôn nhẹ, không có đau đầu, chóng mặt, không làm thay đổi mạch và huyết áp (Chinese Hebral Medicine).
  • Xạ hương ceton (muscone) chế thành thuốc phun sương và ngậm, dùng trị cho 367 ca đau thắt ngực, bệnh mạch vành, kết quả tốt (Báo cáo của Trần Gia Trinh, Tập kỷ yếu nghiên cứu thành phẩm Trung dược – 1981, 931).
  • Dùng Xa hương, Nha tạo, Bạch chỉ chế thành cao dán. Mỗi lần dán 2 miếng ở vùng đau trước tim và huyệt Tâm du, cứ 24 giờ thay 1 lần. Trị 287 ca, tỉ lệ kết quả 81,9%, kết quả tốt 28:6% (Báo cáo của Ninh Tuyển, tạp chí Trung tây y kết hợp – 1988, 7, 409).
  • Trị bệnh viêm gan mạn và xơ gan thời kỳ đầu: dùng dịch chích Xạ hương 5%, luân lưu chích vào 2 huyệt Chương môn, Kỳ môn 2 bên, mỗi lần 2ml, 1 tuần 1 lần, 4 tuần là một liệu trình. Trị 32 ca kết quả tốt (Báo cáo của Từ Thừa Quy, tạp chí Trung y Thiên Tân 1987, 5:20).
  • Trị bong gân vùng eo lưng: Dùng dịch chích Xạ hương 0,2% chích vào A thị huyệt điểm đau nhất, mỗi lần 2–4ml, mỗi tuần 1 lần. 2 tuần là một liệu trình. Theo dõi 21 ca, kết quả tốt (Báo cáo của Triệu Xương Cương. Báo Tân trung y – 1985,14: 26).
  • Trị bạch điếng phong: dùng dịch chích Xạ hương 0,4% chích dưới da vùng bệnh nhiều điểm, lượng tùy theo vùng bệnh to nhỏ, mỗi tuần 2 lần. 3 tháng là một liệu trình, thường là 2–3 liệu trình. Theo dõi 78 ca, tỉ lệ kết quả 83,33% (Liêu Túy Lâm và cộng sự Học báo Viện y học Hồ Nam 1980, 2, 157).
  • Trị nhau thai không ra, thai chết lưu: Xạ hương 0,15g, Nhục quế 1,5g, tán bột mịn, chia 2 lần uống vớt nước nóng (Hương quế tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Chủ trị ác khi, ôn ngược, cồ độc (con sâu độc), khứ độc. Tri động kinh, uống lâu có tác dụng trừ tà (Bản Kinh).
  • Chủ trị các chứng hung tà quỉ khí, trúng ác, tâm phúc bạo thống, trướng cấp, bỉ mãn phong độc, đàn bà sinh khó, trụy thai, trừ nốt ruồi ở mặt, mắt có mộng thịt, uống lâu tinh thần minh mẫn (Danh Y Biệt Lục).
  • Trừ độc nhờ hương thơm (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
  • Tịch tà khí, sát quỉ độc, ngược tật, thôi sinh, trụy thai, sát trùng ở tạng phủ, ngăn ngừa rắn và trùng cắn, thổ phong đàm, nạp tử cung, làm ấm tạng thủy, chủ lãnh đái, trị tất cả loại bệnh nguy hiểm, hư tổn (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
  • Trị không phân biệt được mùi thơm thối (Thang Dịch Bản Thảo).
  • Thông quan, lợi khiếu, thướng đạt cơ phu, nội nhập cốt tủy. Các chúng thương hàn âm độc, nội thương, tích tụ và phu nhân tử cung lạnh, bạch đới đều dùng tốt. Khớp thông, lạnh tan thì dương khí tự hồi vậy (Y Học Nhập Môn).
  • Thông các khiếu, khai kinh lạc, thấu cơ cốt, giải độc rượu, tiêu thực tích. Trị trúng phong, trúng khí, trúng ác (độc), đàm quyết, tích tụ, trưng hà. Xa hương đi xuyên cơ thể, thông các khiếu bị nghẽn, khai ủng tắc kinh lạc. Nếu các chứng phong, chứng khí, chứng huyết, chứng đau kinh quyết, trưng hà, kinh lạc ủng bế không khiếu bất thông mà không dùng Xạ hương để khai thì thông làm sao được?” (Bản thảo cương mục).
  • Trừ các chứng ác sang, trĩ lậu, sưng đau, nước mũi thối, da mặt sạm, ban chẩn (Cảnh Nhạc toàn thư).
  • Khai khiếu, tỉnh thần, hoạt huyết, tán kết, chỉ thống, thôi sản. Chủ trị các chứng nhiệt nhập tâm bào, các bệnh ôn nhiệt, mụn nhọt sưng độc, trùng tích, kinh bế, kinh phong, kinh giản, trúng phong (chứng bế), tâm phúc bạo thống, té ngã tổn thương, nhau thai không ra (Trung Dược Học).

KIÊNG KY:

  • Dùng Xạ hương không được ăn Tỏi (Dược tính luận).
  • Người suy nhược, sức yếu, phụ nữ có thai không được dùng (Trung dược học).

THAM KHẢO

  • Xạ hương là vị thuốc đặc biệt có tác dụng thông lợi các khiếu trong cơ thể. Hễ bị khí độc trúng vào người làm cho các khiếu bị bế tắc, dùng Xạ hương vào, nó hay chạy khắp các nơi, từ trong đến ngoài xương thịt, da đều mở ra khiến cho khí huyết lưu thông như thường (Bản Thảo Kinh Tập Chú).
  • Xạ hương là vị thuốc tỉnh hồn, khai khiếu rất manh, rất hay. Nhưng cần phải xem xét cho đúng bệnh mới nên dùng. Bị trúng phong mà có các chứng ở phần biểu chưa giải, nếu dùng Xạ hương thì nó lại dẫn bệnh vào trong, không thể tống ra được nữa, vì vậy, cần rất cẩn thận khi dùng (Bản Thảo Cầu Chân).
  • Xạ hương tính chạy mau mà mạnh, thường làm cho khiếu thông lợi, có thể thông mạch máu. Ủng tắc có thể chạy đều lại được, các chứng ở mạch máu bị tắc phải dùng nó để dẫn xuống (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
  • Thứ Xạ hương thật mà đeo qua vườn dưa thì không một quả nào đậu được (thành quả) nữa, như vậy đủ biết sức của Xạ hương mạnh chừng nào (Trung Quốc dược học đại tự điển).
  • Vị thuốc thơm ngát cũng không bằng được Băng phiến, lại càng không bằng Xạ hương. Băng phiến tuy thơm ngào ngạt nhưng nổi mà dễ tan, không bằng Xạ hương trầm mà lặng lẽ đi xa. Vì Băng phiến ngửi gần thì thơm, để lâu thì mùi thơm, tan mất. Xạ hương ngửi gần không thơm ngửi xa thì thơm, thơm lâu không tan, mùi thơm càng xa thì càng mát, không kém một mùi thơm nào, tiếc rằng vật đã hiếm giá lại rất cao.

Đặc thù sinh lý của con xạ là chất thơm kết tụ từ rốn đến hai tuyến nang ở hạ bộ (cơ quan sinh dục), khi chưa lấy được Xạ hương, mùi của nó rất tanh hôi, nhưng mùi thơm lại toát ra từ trong mùi hôi thối đó. Màu sắc của xạ hương, đỏ thâm hơi vàng, trong đó những hạt nhỏ gọi là Đương môn tử, rất tốt (Đông Dược Học Thiết
Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search