TÊN KHÁC
Vũ nát (Bản Kinh), Vũ trạch (Biệt Lục), Mã xỉ phàn (Bản Thảo Tập Chú), Nát thạch (Bản Thảo Cương Mục), Minh thạch, Muôn thạch, Trấn phong thạch (Hòa Hán Dược Khảo), Tất phàn, Sinh phàn, Khô phàn, Minh phàn, Phàn thạch (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển), Phèn chua, Phèn phi, Khô phàn (Việt Nam).
MÔ TẢ
Điều chế phèn chua từ nguyên liệu thiên nhiên là Minh phàn thạch, công thức K2SO, Sulfataluminium Al2(SO4)3, Al4(OH)3 có lẫn ít sắt nung Minh phàn thạch (Alunite) rồi hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh sẽ được phèn chua, đó là loại muối có tinh thể to nhỏ không đều, khi thì một miếng to không màu hoặc trắng, có khi trong hay hơi đục, tan trong nước không tan trong cồn, Rang ở nhiệt độ cao phèn chua mất dần hết nước để thành Phèn phi, xốp nhẹ gọi là Khô phàn (Alument Usium).
DƯỢC LÝ
Dùng uống: Thuốc kích thích niêm mạc dạ dày, gây nôn phản xạ. Trong ruột thuốc không hấp thu ức chế niêm mạc ruột tiết dịch mà có tác dụng cầm tiêu chảy (Trung Dược Học).
Khô phàn nồng độ thấp đắp bên ngoài có tác dụng tiêu viêm, thu liễm, chống hoại tử. Có thể làm đông albumin, xơ hóa da, cầm máu. Nồng độ cao của Bạch phàn gây ăn mòn thịt, sinh ra loét (Trung Dược Học).
Uống trong, thuốc có tác dụng chống cơn động kinh, lợi mật, hạ mỡ (Trung Dược Học).
In vitro, Bạch phàn có tác dụng ức chế nhiều loại vi khuẩn gram (–) như đối với Bêta Hemolytic streptocoque, Pneumonia và Corynebacterium diphtheriae. Dung dịch Minh phàn 10% có tác dụng ức chế rõ đối với Trichonomas âm đạo. Bạch phàn cũng có tác dụng kích thích mạnh đối với tổ chức cơ thể, vì vậy thường được dùng bên ngoài. Thuốc dùng quá liều có thể gây nôn, loét, tiêu chảy và choáng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị chua, tính hàn (Bản Kinh).
- Vị sáp, tính mát, hơi có độc (Dược Tính Bản Thảo).
- Vị chua chát, tính lạnh (Trung Dược Học).
QUY KINH:
- Vào kinh Phế, Can (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vào kinh túc Thái âm Tỳ, túc Dương minh Vị (Bản Thảo Tối Yếu).
- Vào kinh Tỳ (Trung Dược Học).
BẢN ĐỊA:
Các nước đều có, Minh phàn thiên nhiên là một khối kết tinh hình 8 mặt màu trắng, vì lượng thiên nhiên ít nên phải cần nhân tạo mới đủ dùng.
TÊN GỌI:
Phàn có nghĩa là nướng, vị này do một loại khoáng chất nướng ra mà thành, nó có màu trong sáng (minh), vì vậy gọi là Minh phàn.
Khi rang lên cho 1 vị xốp trắng nhẹ khô nên gọi là Khô phàn.
BÀO CHẾ:
- Cho phèn chua vào nồi đất nung đỏ rực cả trong lẫn ngoài, lấy ra, đậy kín lại, cho vào trong tàng ong lộ thiên mà đốt, cứ 300g phèn thì 180g tàng ong, đốt cháy hết, để nguội, lấy ra tán bột. Gói giấy lại, đào đất sâu 5 tấc, chôn 1 đêm rồi lấy ra dùng (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Không nấu thì gọi là Sinh phàn, nấu khô cho hết nước gọi là Khô phàn. Nếu uống, phải chế cho đúng cách (Bản Thảo Cương Mục).
- Dùng 1 chảo gang có thể tích chứa được gấp 5 lần thể tích muốn phi, để tránh phèn trào ra. Cho vào chảo đốt nóng đến khi chảy, nhiệt độ có tới 80–900. Phèn bồng trào lên, cho đến khi nào không thấy bồng trào lên nữa thì giảm lửa, để nguội. Lấy ra cạo bỏ cái đen hoặc vàng bám bên ngoài chỉ lấy thứ trắng. Tán mịn. Phèn phi tan ít và chậm tan trong nước (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
BẢO QUẢN:
- Cần tránh ẩm. Đựng kín trong lọ.
- ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị hoàng đản: Tiêu thạch, Phàn thạch, 2 vị bằng nhau, tán bột, uống với nước cháo Đại mạch, mỗi lần 3g, ngày 3 lần (Tiêu thạch phàn thạch tán – Kim Quỹ Yếu Lược).
- Trị đinh nhọt, phát bối (nhọt độc ở lưng), nhọt độc đầy người (nếu nhọt chưa thành thì tan đi, nếu có mủ thì vỡ mủ, mau lành miệng):
- Bạch phàn sống 30g, luyện với sáp ong nóng chảy, làm thành viên to bằng hạt đậu đen, mỗi lần uống 10 – 20 viên với nước nóng (Hoàng lạp hoàn – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị trúng phong cấm khẩu: Bạch phàn 30g, Tạo giáp 15g. Tán bột (từng vị một), uống một lần 3g với nước sôi để nguội, dần dần đờm sẽ ra thì bớt (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị nhức đầu không muốn ăn do đờm kết: Bạch phàn 30g, sắc với 2 chén nước còn 1 chén, trộn với 2 muỗng mật ong, uống sẽ nôn ra đờm, nếu chưa nôn, uống thêm nước để dễ nôn (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị động kinh do phong đờm gây nên: Bạch phàn 30g, Tế trà (chè tàu) nhỏ cánh, lâu năm càng tốt 15g. Tán bột, luyện với mật ong làm viên to bằng hạt đậu đen, trẻ nhỏ mỗi lần uống 5–6 viên, người lớn lần 15 viên với nước nóng (Hóa đờm hoàn – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị trẻ nhỏ mới sinh khóc liên tục vì hàn khí ở bụng mẹ: Bạch phàn nung lửa 1 ngày, tán bột, làm thành viên, to bằng hạt ngô đồng. Mỗi lần dùng 2 viên, mài với sữa cho uống, uống dần cho đến khi hết (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị sản hậu bị cấm khẩu: Bạch phàn sống 3g, tán bột, trộn nước lạnh cho uống 2–3 lần (Khô phàn tán – Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị trẻ nhỏ miệng lưỡi trắng không bú được: Phèn chua phi 3g, tán bột, dùng lông gà bôi (rơ) vào miệng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị đại tiểu tiện không thông: Bạch phàn 15g, tán bột, nằm ngửa, đặt vào rốn, làm cho khí lạnh thấm vào bụng một lát thì đi tiêu được (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị đau bụng, thổ tả: Phèn phi 3g, uống với nước đun sôi (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị rắn độc cắn: Bạch phàn 1 cục, đặt lên lưỡi dao, đốt cho chảy ra, rồi dùng nó nhỏ một giọt vào chỗ vết thương (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị hôi nách: Phèn phi, tán bột, bọc vào khăn lụa hoặc khăn tay, xát vào nách hàng ngày (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị tai chảy nước, chảy mủ, miệng lưỡi lở: Phèn phi rắc tại chỗ hoặc hòa với nước để rửa (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị ngứa lở ở đầu: Minh phàn 720g (nung lửa thành Khô phàn tán bột), Tùng hương 90g (tán bột), Mỡ heo tươi 240g. Đem Tùng hương quậy đều với mỡ heo rồi nấu dẻo, khi nào lấy đũa nhúng vào đưa lên thấy nhỏ giọt hột là được, để nguội, trộn Khô phàn (bột) vào, khuấy đều, phết dán nơi đau (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị thấp chẩn: Khô phàn, Lưu hoàng đều 90g, Thạch cao nung 480g, Thanh đại 30g, Băng phiến 1,5g, tán bột, cất kín. Khi dùng trộn với dầu mè bôi vào vùng bệnh, ngày 2 lần, liên tục 5–7 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị ngứa lở: Khô phàn, Lưu hoàng, Xà sàng tử đều 30g, tán bột, trộn dầu mè bôi (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị hoàng đản: Minh phàn, Thanh đại, lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 1,5g –3g, ngày 3 lần (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị chàm lở: Khô phàn, Lưu hoàng đều 100g, Thạch cao nung 500g, Thanh đại 30g. Băng phiến 1–5g, tán bột mịn, trộn đêu. Lúc dùng trộn với dầu thực vật bôi vào vùng bệnh, ngày 2 lần liên tục trong 5– 7 ngày (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).\
- Trị chàm lở: Khô phàn, Lưu hoàng, Xà sàng tử 30g, tán bột mịn, trộn đều, hòa với dầu bôi (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị xuất huyết ở phổi: Bạch phàn, Hài nhi trà, lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 0,9 – 1,2g với nước nóng (Chỉ huyết tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị trẻ nhỏ bị nga khẩu sang: Khô phàn, Chu sa, lượng bằng nhau, tán bột, trộn với dầu mè hoặc dầu ăn, bôi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị đinh nhọt sưng đau, thấp chẩn: Minh phàn, Hùng hoàng, lượng bằng nhau, trộn với bã trà, đắp (Nhị vị bạt độc tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Tri trĩ nội giai đoạn 3: Chiết xuất Minh phàn, Ngũ bội tử, lấy thành phần hữu hiệu chế thành dịch chích Tiêu trĩ linh (có tanic acid) 0,15%. Minh phàn 4%, dùng procain1% pha loãng thành dịch nồng đô với tỉ lệ 2–1 và 1 – 1, chích thành 4 bước, từ trên khu động mạch trên của trực tràng (vùng trên búi trĩ xuống dưới, đến vị trí thấp nhất của búi trĩ, sâu đến tầng dưới niêm mạc nông là ở niêm mạc Mỗi lần chích 25–40ml dịch đã pha loãng. Đã trị 968 ca, khỏi 933 ca, tiến bộ 34 ca, không kết quả 1 ca. Tỉ lệ khỏi 96,4% (Sử Đào Kỳ, Trung Y Tạp Chí 1980, 7: 24).
- Trị sa trực tràng: Dùng dịch chích Minh phàn, chích vào vùng bệnh (trước lúc chích 2 giờ, chuẩn bị vô trùng vùng hậu môn. Bơm rửa sạch ruột già 1 lần, trước lúc chích 10 phút, cho bệnh nhân đi tiểu, gây tê quanh hậu môn). Đối với người lớn, trực tràng sa nặng, dùng dung dịch nồng độ 5–6%, mỗi lần 20–40ml, trẻ em và trường hợp sa nhẹ, dùng dung dịch nồng độ 3–4%, 10–20ml. Số ít rất nặng, dùng dịch có nồng độ 7 – 8%. Đã trị 329 ca, khỏi 310 ca (97%), kết quả khá 5 ca, tiến bộ 4 ca, không kết quả 3 ca (Bành Trách Nam, Hồ Nam Y Dược Tạp Chí 1979, 5:24).
- Trị sa tử cung: dùng Minh phàn 2g, hòa vào 20ml dung dịch chích 0,25% procain, đun sôi, lọc qua 3–4 lần, lại đun sôi 15 phút để dùng phong bế tại chỗ. Dùng trị 85 ca khỏi 84 ca (Tưởng Tứ Tiêu và cộng sự, Phúc Kiến Trung Y Dược Tạp Chí 1960, 5: 19).
- Trị ung thư mạch máu hàm mặt tầng sâu: Dùng Minh phàn 100g, Sodium satrate 15g, Benzyl alcohol 20ml. Thêm lượng nước chích vừa đủ, chế thành 10% dịch chích Minh Phàn. Mỗi lần chích vào vùng bệnh 1–2ml. Đã trị 95 ca (thể khu trú), kết quả tốt 66 ca, rõ rệt 14 ca, có kết quả 11 ca: không kết quả 4 ca. Tỉ lệ có kết quả 95,8% (Lưu Thục Phàn, Tạp Chí Răng Hàm Mặt Trung Hoa – 1980, 2: 79).
- Trị xuất huyết nhiều ở đường niệu: Tinh chế thành dung dịch 1%, cứ mỗi 100ml cho thêm Gentamycin 80mg trộn đều. Dùng phương pháp bơm rửa bàng quang, lượng mỗi lần 2000 – 3000ml. Mỗi phút nhỏ giọt với tốc độ 15–20 ml. Trị 23 ca dùng 1,3 lần bơm rửa, có kết quả rõ 17 ca, có kết quả 6 ca (Kim Hòa Dân, Trung Tây Y Kết Hợp Tạp Chí 1988, 11: 680).
- Trị Lipid huyết cao: Mỗi lần uống Bạch kim hoàn 6g, ngày 3 lần. 20 ngày là 1 liệu trình. Uống liên tục 2–3 liệu trình. Đã trị 344 ca: có 170 ca mập, thể cân nặng giảm rõ. Người ốm thì tăng cân, huyết áp cao 138 ca, kết quả rõ 32 ca, có kết quả 50 ca, Cholesterol máu cao 267 ca, hạ bình quân 85,9mg%, Triglycerid máu cao 222 ca, tri số hạ bình quân 70,6mg. Beta-lipoprotein huyết thanh cao 165 ca, trị số hạ bình quân 175,9mg% (Tổ nghiên cứu hạ lipit máu của Bạch kim hoàn, tỉnh Giang Tây, Giang Tây Trung Y Dược Tạp Chí, 1981, 1: 1).
- Trị viêm tai giữa: Khô phàn, Ngũ bội tử, lượng bằng nhau, tán bột mịn, thêm ít Băng phiến trộn đều. Dùng nước oxy già rửa sạch tai hết mủ (3% nước oxy già) dùng bông chùi khô tai rồi dùng ống trúc đường kính 5mm thổi thuốc vào. Đã trị 49 ca, trừ 1 ca dùng phương pháp khác, 48 ca trị trong 3 ngày khỏi (Lương Ba, Thiểm Tây Trung y Tạp Chí 1988, 9 (3): 124).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG:
- Trừ phong, khứ lao, tiêu đờm, chỉ khái (Nhật Hoa Tử Bản Thảo).
- Táo thấp, sát trùng, khử đàm, chỉ huyết, đồng thời lại còn có tác dụng làm mửa mạnh nhiệt đàm (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Giải độc, sát trùng, táo thấp, chỉ dưỡng, chỉ huyết, chỉ tà, thanh nhiệt, tiêu đờm (Trung Dược Học).
CHỦ TRỊ:
- Rửa trị lòi dom, sáp trường, đắp vào nhọt làm khô nước (Bản Thảo Mông Thuyên).
- Trị ngứa âm hộ, đới hạ, ngứa lở (tán bột xức hoặc sắc rửa). Cổ họng sưng đau, đờm dãi nhiều, động kinh (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
- Trị mụn nhọt, ghẻ lở, thấp chẩn, ngứa, chàm, nôn ra máu động kinh, cuồng, hoàng đản do thấp nhiệt (Trung Dược Học).
LIỀU DÙNG:
3–6g uống, bên ngoài dùng tùy thích.
KIÊNG KỴ:
Chứng ho âm hư cấm dùng. Không nên uống nhiều, uống lâu (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
Sơ chế: Nung đá Minh phàn (Alunite) sau đó hòa tan trong nước nóng, lọc và kết tinh, ngoài ra có thể chế phèn chua bằng cách nung đất sét cho tác dụng với Acid Sulfuric, rồi trộn với dung dịch Kali sulfat rồi kết tinh. Dùng thứ trắng trong là thứ tốt


