TÊN KHÁC
Bạch ba xuyến, Tân la bạch nhục (Hòa Hán Dược Khảo), Vũ bạch phụ Độc giác liên, Ma vu tử, Hồng nam tinh, Đại bán hạ (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
MÔ TẢ:
Cây cỏ đa niên, thân củ hình trứng có khi tròn như quả trứng, đường kính 2–4cm. Lá mọc ở gốc, 1–3 phiến, có cuốn dài, cao hơn 30cm, lá phiến tam giác hình trứng, hình mũi tên ở gốc, dài 10–35cm, rộng 7–22cm. Bông mo nhị đực ở trên, nhị cái ở dưới, bên ngoài bao bởi bông mo màu tím. Quả mọng màu hồng.
PHÂN BIỆT:
- Vị này còn gọi là Vũ bạch phụ, còn vị có ở Đông bắc Trung Quốc gọi là Quan bạch phụ thuộc họ Mao lương (Xem: Ô đầu, Phụ tử). Vị Vũ bạch phụ chuyên về khử phong đàm, còn Quan bạch phụ chuyên về trục hàn thấp và chống co giật. Quan bạch phụ có độc giống Ô đầu.
- Bạch phụ tử ở trên còn dùng để chỉ 2 vị thuốc khác là rễ của cây Jatropha janipha Lour thuộc họ Euphorbiacea, và cây San hô hay Bạch phụ tử, Đỗ trọng nam, đầu lai nhiều khía (Jatrophja muliifida L.) thuộc họ Euphorbiaceae, còn có tên khác là cây Dầu mè đỏ, Dầu lai nhiều khía.
- Có nơi dùng cây Bạch phụ tử với cây Aconitin sp (Danh Từ Dược học Đông Y).
TÍNH VỊ QUY KINH
TÍNH VỊ:
- Vị cay ngọt, tính rất nóng, có ít độc (Trung Dược Học).
- Vị cay, ngọt, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Vị (Trung Dược Học).
- Vào kinh Vị (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐỊA LÝ:
Ít thấy ở Việt Nam.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Dùng củ rễ.
THU HÁI:
Đào rễ phơi khô vào giữa tháng 3.
BÀO CHẾ
- Khi dùng phải ngâm với nước sôi hoặc vùi vào tro nóng để cho bớt độc (Bản thảo cương mục).
- Ngâm nước lạnh vài ngày, cho vào đun sôi với Gừng cho đến khi chín đến giữa củ, phơi khô, rồi đem hấp lên, thái phiến hoặc ủ tro nóng mà dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị cổ họng viêm, rát: Bạch phụ tử tán bột, Khô phàn, 2 vị bằng nhau, tán bột, ngậm trên lưỡi, đàm ra nhiều càng tốt (Thánh Huệ Phương).
- Trị tai chảy mủ nước: Bạch phụ tử ngâm nước, Khương hoạt 30g tán bột, 1 trái thận heo, 1 trái thận dê, cứ mỗi quả thận cho vào 3g thuốc, lấy lá gói lại, nướng chín, ăn lúc gà gáy sáng, với rượu nóng (Thánh Tế Tổng Lục).
- Trị phong hàn cảm nhiễm gây nên trong đầu đau nhức, lan xuống mắt gây ra mù: Bạch phụ tử, Ma hoàng, Xuyên ô, Thiên nam tinh, Toàn yết, Can khương, Thần sa, Xạ hương. Tán bột uống với rượu ấm (Bạch phụ tán – Loại Chứng Phổ Tế Bản Sự Phương).
- Trị đau nhức 1 bên hoặc giữa đầu: Bạch phụ tử, Bạch chỉ, Trư nha trạo giác (bỏ vỏ), lượng bằng nhau, tán bột, uống với nước chè xanh, lúc ăn (Phổ Tế Phương).
- Trị trúng phong méo miệng: Bạch phụ tử, Bạch cương tàm, Toàn yết, lượng bằng nhau, tán bột, mỗi lần uống 6g với rượu (Khiên chính tán – Dương Thị Gia Tàng).
- Trị trẻ nhỏ bị say nắng, thử độc nhập vào tim làm hôn mê co giật, đàm chặt ở cổ: Bạch phụ tử, Thiên nam tinh, Bán hạ (bỏ vỏ), lượng bằng nhau, tán bột, trộn với mật heo làm thành viên to bằng hạt ngô, uống với nước Bạc hà, tùy trẻ mạnh hay yếu để uống, nên đặt trẻ nằm nghiêng để ra đàm nhớt (Toàn Ấu Tâm Giám).
- Trị phong hàn chóng mặt, do khí uất tức ngực sườn: Bạch phụ tử, ngâm nước sôi rồi bỏ vỏ, 240g. Thạch cao nung đỏ, 240g, Chu sa 67,5g, Long não 3g, tán bột, trộn với hồ làm viên, to bằng hạt đậu đỏ, mỗi lần uống 30 viên với rượu sau khi ăn (Ngự Dược Viện).
- Trị dịch hoàn xệ xuống, thoát vị bẹn: Bạch phụ tử 1 củ, nghiền bột, trộn nước bọt của mình đắp trên rốn, lấy Ngải cứu, cứu 3 hoặc 5 tráng thì đỡ (Dương Khởi Giản Tiện Phương).
- Trị trẻ con hay mửa, hư suyễn: Bạch phụ tử, Hoắc hương 2 vị bằng nhau, tán bột, uống 1,5g với nước gạo (Bảo Ấu Đại Toàn).
- Trị trẻ nhỏ bị cấp kinh phong: Bạch phụ tử, Đởm tinh, Toàn yết, Bạch cương tàm, Câu đằng, Thiên trúc hoàng, Bạch đàn hương, Ngưu hoàng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Trị đàm lỏng kèm hàn tà: Bạch phụ tử, Nam tinh, Bán hạ (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Trị nhức đầu do đàm nghịch: Bạch phụ tử, Thiên ma, Bán hạ, Nam tinh, lượng bằng nhau, trộn với nước gừng làm thành viên, to bằng hạt đậu xanh, mỗi lần uống 40 viên với nước sắc gừng (Trung Quốc Dược Học Đại Tự Điển).
- Trị chóng mặt do phong đàm, nhức đầu do đàm quyết: Bạch phụ tử (chế), Nam tinh (chế), Bán hạ (chế) đều 8g, sắc uống (Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị nôn mửa, co rút do phong đàm: Bạch phụ tử, Nam tinh (chế), Bán hạ, Xuyên ô (chế), Thiên ma đều 6g, Toàn yết 3g, Cương tàm 4,5g, Trần bì 9g, Mộc hương 4,5g, sắc uống (Bạch phụ ẩm – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị ngứa lở ở bìu dái: Bạch phụ tử, Khương hoạt, Hoàng kỳ, Bạch tật lê mỗi thứ 9g, tán bột, mỗi lần uống 6g, ngày 2 lần, với nước (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Khứ đàm, chỉ thống, khứ phong, trừ thấp. Trị trúng phong đàm nghẹt, miệng méo mắt xếch, đau nhức bên đầu, phá thương phong (Trung Dược Học).
- Trừ phong đàm, trục hàn thấp. Trị trúng phong đờm ngăn nghẹn, nói khó, không nói được, chứng du phong ở trên mặt, đau nửa đầu, đau giữa đầu thuộc phong hàn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
LIỀU DÙNG:
3g – 9g.
KIÊNG KỴ:
- Âm hư nội nhiệt không phải hàn chứng cấm dùng (Trung Dược Học).
- Loại trúng phong thuộc âm hư, tuy có đờm ủng tắc, vít lại cũng không được dùng. Trẻ nhỏ bị Tỳ hư, mạn kinh cũng không được dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).
THAM KHẢO
- Vị Phụ tử chia ra làm hai loại: Đen (hắc) và trắng (Bạch). Phụ tử mà người ta thường nói là Hắc phụ tử, vị cay, tính nhiệt, có tác dụng khứ hàn thấp trúng ở hạ tiêu, thiên về đi xuống, vào Thận. Một vị khác tức là Bạch phụ tử, vị cay, ngọt mà ôn, tính táo, đi lên, là thuốc thuộc dương trong chứng phong, thiên về dẫn sức thuốc đi lên mặt, chủ yếu trị phong đờm, táo thấp đờm (Đông Dược Học Thiết Yếu).
- Bạch phụ tử trông hình dáng giống như Phụ tử, vì thế người ta đặt tên như vậy nhưng thực ra không phải là loại Phụ tử (Đông Dược Học Thiết Yếu).
Hắc phụ tử, gọi tắt là Phụ tử thiên về dẫn thuốc chạy ở hạ tiêu, chủ tráng dương, tán hàn. Bạch phụ tử, vị cay, ôn, đã tán lại thăng, chuyên dẫn thuốc chạy ở thượng tiêu, trị bệnh ở vùng đầu mặt. Không thể lầm lẫn được (Thực Dụng Trung Y Học).


