Tử Uyển

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản Kinh

Tên khoa học: Radix asteris Tatarici.

Họ khoa học: Họ Cúc (Compositae).

MÔ TẢ

Loại thảo sống lâu năm, cao 1–1,5m. Thân mọc thẳng đứng, phía trên có nhiều cành, thân và cành có nhiều lông ngắn, phía gốc có lá mọc vòng. Lá hình mác đầu tù, phía cuống hẹp lại, mép có răng cưa, 2 mặt lá đều có lông. Trên thân có lá mọc so le, hẹp, gần như không cuống. Hoa tự hình đầu, có cuống dài. Hoa thìa lìa mọc xung quanh, có màu tía tím nhạt, hoa ống ở giữa có màu vàng. Quả khô hơi dẹt, có lông trắng. Cây này chưa thấy ở Việt Nam. Ở Cao Bằng có cây Aster trinervirus Roxb.: cây thảo, cao 0,3–1,6m, mọc thẳng đứng, trên ngọn phân nhánh, thân có lông ngắn. Lá hình bầu dục thuôn dài, hẹp lại ở phía cuống, mép có răng cưa, lá dài 3–7cm, rộng 0,5–2,5cm. Hoa hình đầu, tím nhạt ở xung quanh, vàng ở giữa, mọc đơn độc, hoặc tụ từng 2–3 hoa thành ngù ở đầu cành.

DƯỢC LÝ

  • Thuốc có Saponin, cho thỏ uống thấy tăng chất tiết khí quản, vì thế có tác dụng hóa đờm (Trung Dược Học).
  • Nước sắc Tử uyển cho mèo uống không làm giảm ho nhưng chiết xuất chất Ceton Tử uyển trên thực nghiệm có tác dụng giảm ho (Trung Dược Học).
  • Có tác dụng ức chế các loại trực khuẩn đại trường, lỵ Shigelle sonnei, trực khuẩn thương hàn, trực khuẩn mủ xanh, Pseudomonas aeruginosa, phẩy khuẩn thổ tả (Trung Dược Học).
  • Trong thuốc có chiết xuất được thành phần có tác dụng kháng tế bào ung thư (Trung Dược Học).
  • Saponin Tử uyển có tác dụng tán huyết mạnh, không nên chích tĩnh mạch (Trung Dược Học).

TÍNH VỊ:

  • Vị đắng, tính ôn (Bản Kinh).
  • Vị cay, không độc (Danh Y Biệt Lục).
  • Vị đắng, tính bình (Dược Tính Bản Thảo).
  • Vị đắng, cay, tính hơi ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh Tâm, Phế (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
  • Vào kinh Phế, Đại trường (Bản Thảo Kinh Sơ).
  • Vào kinh Phế (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐỊA LÝ:

Cây này hiện nay vẫn chưa khai thác ở Việt Nam.

BỘ PHẬN DÙNG:

Thân rễ dưới đất. Thứ rễ dài, mầu tím, chất mềm dai, đã bỏ hết đoạn thân gốc, sạch bùn đất là tốt.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Vào đầu mùa thu, xuân, đào về, bỏ thân rễ có đốt và bùn cát, chọn lấy rễ cái mầu trắng vàng, có đốt ở dưới để trồng năm sau, lấy các rễ con bó lại thành những mớ nhỏ, phơi khô.

BÀO CHẾ:

  • Bỏ hết tạp chất, cắt bỏ đầu và cuống, rửa sạch, cắt từng đoạn, tẩm mật một đêm, sấy khô (Lôi Công Bào Chích Luận).
  • Lấy Tử uyển đã chọn lọc, cho thêm ít Mật ong và ít nước sôi, khuấy đều, ủ qua, đặt nồi lên bếp, đun nhỏ lửa, sao cho đến khi không dính tay là được (Dược Tài Học).
  • Theo kinh nghiệm Việt Nam: Cũng chế như trên, nhưng sau khi tẩm mật một đêm thì sao vàng (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
  • Bỏ đầu và đất, rửa sạch, thái từng đoạn, dùng sống hoặc chế với mật để dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

BẢO QUẢN:

Đậy kín, làm đến đâu dùng đến đấy. Dễ hút ẩm, bị mốc nên phải năng phơi sấy nhẹ.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị ho thể lao nhiệt, phế ung, ho nôn ra mủ máu: Tử uyển, Tri mẫu, Bối mẫu, A giao, Phục linh, Nhân sâm, Cam thảo, Cát cánh, Ngũ vị tử. Sắc uống (Tử Uyển Thang – Y Lũy Nguyên Nhung).
  • Trị ho, cảm: Tử uyển, Bách bộ, Bạch tiên đều 10g, Cát cánh, Kinh giới đều 6g, Trần bì 5g, Cam thảo 3g. Sắc uống (Chỉ Thấu Tán – Y Học Nhập Môn).
  • Trị lao phổi do Phế âm hư, ho đờm có máu: Tử uyển, Tri mẫu, A giao, Đảng sâm, Phục linh đều 10g, Xuyên bối mẫu, Cát cánh đều 6g, Trần bì 5g, Cam thảo 3g. Sắc uống (Tử Uyển Thang – Y Phương Tập Giải).
  • Trị ho, lao nhọc: Thục địa 400g, Ý dĩ 240g, Ngưu tất, Đan sâm đều 120g, Địa cốt bì, Khoản đông hoa, Tử uyển đều 80g, Sinh địa 200g, Mạch môn 160g, Thán khương 24g, Mật ong 240g (nấu riêng). Các vị thuốc sắc 2 nước, lọc bỏ bã, cô thành cao mềm, cho thêm bột Phục linh và Bối mẫu (đều 80g) vào trộn với cao và Mật làm thành cao. Ngày uống 2 lần, mỗi lần 1–2 thìa canh (Lao Khái Cao Tư Phương – Hải Thượng Y Tông Tâm
    Lĩnh).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Hóa đàm khí, chỉ khái (Trung Dược Học).
  • Ôn Phế, hạ khí, hóa đờm, chỉ khái. Trị ho, khí nghịch lên, ho nôn ra máu mủ (Đông dược học thiết yếu).

KIÊNG KỴ:

Âm hư, Phế táo: cẩn thận khi dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

LIỀU DÙNG:

4,5g – 9g.

THAM KHẢO

  • Tử uyển chích mật có tác dụng nhuận táo, ích Phế tốt, dùng trị ho lâu ngày do Phế hư (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Tử uyển tuy vị đắng cay mà ôn, nhưng có thừa nhu nhuận, chuyên khai thông Phế uất, tuyên thông tắc trệ. Chứng hàn tà bó bên ngoài, Phế khí bị ủng tắc, ho, suyễn khó thở, hỏa khí nung nấu bên trong, ho nôn ra mủ máu, đều có thể dùng Tử uyển để trị. Vì Tử uyển ôn mà không nhiệt, nhuận mà không táo cho nên chứng hàn nhiệt đều có thể dùng được (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Tử uyển và Khoản đông hoa, tính vị, công dụng không khác nhau mấy. Trên lâm sàng, người bị phong hàn nhẹ mà kiêm nhiệt thì dùng Tử uyển, người bị phong nhiệt nhẹ mà kèm hàn thì dùng Khoản đông hoa. Đó chỉ là điểm khác nhỏ trong điểm giống lớn mà thôi (Đông dược học thiết yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search