Tục Đoạn

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Bản kinh

Tên khoa học: Radix Dipsaci

Họ khoa học: Tục đoạn (Dipsacaceae).

TÊN KHÁC

Long đậu, Vạn cân (Bản kinh), Tiếp cốt, Nam thảo (Biệt lục), Tiếp cốt thảo (Vệ sinh dị giản phương), Cổ chùy thảo, Hòa hướng đầu (Trấn Nam bản thảo), Xuyên đoạn (Lâm chứng chỉ nam), Xuyên la hạ căn, Lục thốn, Xuyên tục đoạn, Mã kế căn, Tục đoạn đằng, Chư đằng đoạn, Xuyên đoạn nhục, Chúc chiết, Hòe sinh, Long lập, Hòe hoa sinh (Trung Quốc dược học đại tự điển), Mã kế (Tứ Xuyên trung dược), Hắc lão nha đầu, Tiểu tục đoạn (Hồ Bắc trung dược), Sơn la (Vân Nam trung dược).

MÔ TẢ

Là rễ khô của cây Xuyên tục đoạn (Dipsacus asper Wall hoặc cây Tục đoạn (Dipsacus japonicus Miq). Tục đoạn hình trụ, tròn, dài, dưới nhỏ dần hoặc hơi cong, dài 8cm – 16cm, đường kính 0,8 – 1,2cm. Vỏ ngoài mầu nâu xám hoặc nâu vàng, có những vết nhăn dọc, cong, có rãnh nông. Chất cứng và dòn, dễ bẻ, mặt bẻ không phẳng. Chung quanh mầu nâu, giữa lõi lục đen và có vằn hoa mầu vàng. Không mùi, vị đắng, hơi chát.

DƯỢC LÝ

Nghiên cứu tác dụng dược lý loại Dipsacus pilosus (cùng chi khác loài với Tục đoạn) người ta thấy với liều 0,2 – 0,3g cao đối với 1kg thể trạng của chó và mèo thì thấy huyết áp cao lên, nhịp tim nhanh lên đồng thời biên độ mạch cũng tăng. Hơi thở mau và sâu. Thử trên tủy sống của chuột thấy cao Dipsacu pilosus có tác dụng gây mê mạnh (Những cây thuốc và vị thuốc Việt Nam).

TÍNH VỊ:

  • Vị đắng, tính hơi ôn (Bản kinh).
  • Vị hơi đắng, hơi chua, tính ôn (Trấn Nam bảo thảo).
  • Vị đắng, ngọt, cay, hơi ôn (Trung dược học).

QUY KINH:

  • Vào kinh Can (Trấn Nam bản thảo).
  • Vào kinh Can, Thận (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Vào kinh Can, Thận (Trung dược học).

ĐỊA LÝ:

Mọc hoang ở vùng có đất vôi và đất sét, độ cao 1.400 –1.700m tại miền Bắc Việt Nam, nhiều nhất ở Sa pa, Bình Lư (Lào Cai), Hà Giang, Tuyên Quang.

PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:

Rễ. Lấy những khúc to, cứng, dễ bẻ, vỏ ngoài mầu nâu vàng, mặt bẻ mầu lục, đen là tốt.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Vào các tháng 8–10 đào lấy rễ, cắt bỏ mẫu thân và rễ con, phơi khô hay sấy khô là được. Nhưng cũng có nơi đào rễ, cắt bỏ đầu và rễ con như trên rồi dùng củi gỗ hun cho rễ mềm, chất thành đống, đậy bao tải lên, đợi cho rễ ẩm lại và chờ cho đến khi mặt vỏ ngoài có vàng hay hơi xám, giữa rễ có màu xanh thì đưa ra phơi khô hay sấy khô.

BÀO CHẾ:

  • Theo Trung Y: Ngâm nước một lúc, ủ mềm thấu, thái lát phơi khô (dùng sống) hoặc tẩm rượu sao dùng (Lôi công bào chế dược tính giải).
  • Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch thái mỏng, phơi khô (thường dùng).
  • Có khi tẩm rượu sao qua (trị đau xương). Ngâm rượu uống với các thuốc khác (Phương pháp bào chế đông dược).

BẢO QUẢN:

Để nơi khô ráo, mát, phòng sâu mọt, mốc.

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị đau lưng và chân (thuộc thể hư và hàn thấp), chân gối mỏi, (gân co cứng): Tục đoạn, Tỳ giải, Ngưu tất (sao), Đỗ trọng, Mộc qua, mỗi thứ 80g, nghiền bột mịn, luyện mật làm hoàn. Cứ mỗi viên nặng 10g. Mỗi lần uống 1 viên. Ngày uống 2–3 lần, uống với nước nóng, hoắc rượu nóng (Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị té ngã gây đau lưng, gối, chân tay đau sưng hoặc gãy xương kín, bong gân: Nhũ hương (chích), Một dược (chích), Đồng (tự nhiên), Thổ miết trùng, Huyết kiệt, Tục đoạn, Đương quy, Cốt toái bổ, Hồng hoa, đều 12g, Mộc hương 8g. Tán bột mịn, mỗi lần uống 12g, ngày 2–3 lần, uống với nước sôi nguội hoặc hòa với dấm, rượu đắp ngoài (Tiếp cốt tán – Sổ tay lâm sàng trung dược).
  • Trị phụ nữ băng lậu, khí hư, bạch đới hoặc thai động, dọa sẩy thai: Tục đoạn, Đương quy, Hoàng kỳ, Long cốt, Xích thạch chi, Địa du, đều 12g, Thục địa 16g, Xuyên khung, Ngải diệp đều 6g, tán bột làm hoàn. Mỗi lần uống 8g, ngày 2 lần (Sổ tay lâm sàng trung dược).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Chủ thương hàn, bổ bất túc. Trị ung nhọt, ngã gãy xương, làm liền gân cốt, phụ nữ ít sữa, uống lâu ngày thuốc làm tăng khí lực (Bản kinh).
  • Trợ khí, điều huyết mạch, bổ ngũ lao, thất thương, phá trưng kết, ứ huyết, tiêu thũng độc, trường phong, trĩ lậu, nhũ ung, loa lịch, bổ hư tổn, trị bệnh sản phụ trước và sau khi đẻ, sắc mặt vàng, phù, súc niệu, trị di, hoạt tinh, tiểu có máu, thai lậu, tử cung lạnh (Nhật Hoa tử bản thảo).
  • Bổ Can, mạnh gân xương, thông kinh lạc, trị đau kinh, an thai, trị bạch đới, sinh tân huyết, phá ứ huyết, trục thai chết, trị ho và ho có máu (Trấn Nam bản thảo).
  • Bổ Can Thận, an thai, chỉ lậu, hoạt huyết, làm liền gân xương. Trị chứng Can Thận hư, lưng đau, chân yếu, thai lậu, thai trụy, gãy xương, bong gân, lở nhọt (Trung dược học).

KIÊNG KỴ:

  • Sợ vị Lôi hoàn (Bản thảo kinh tập chú).
  • Mới bị kiết lỵ: không nên dùng (Đắc phối bản thảo).
  • Âm hư hỏa thịnh thì kiêng dùng (Phương pháp bào chế đông dược).

LIỀU DÙNG:

12 - 20g.

THAM KHẢO

  • Chủ yếu dùng Tục đoạn trị chứng đau lưng, chân, tác dụng gần giống với Ngưu tất, Đỗ trọng, so với Đỗ trọng thì Tục đoạn vị đắng, tính ôn, có tác dụng hoạt huyết, thường dùng cho trường hợp té ngã chấn thương, gãy xương, còn Đỗ trọng vị ngọt, tính ôn, chuyên dùng ôn bổ, có giá trị trị chứng Thận hư, đau lưng và an thai. Còn Ngưu tất có xu hướng đi xuống trị đau phần dưới tốt (Trung dược học).
  • Đỗ trọng và Tục đoạn đều có tác dụng bổ ích Can Thận, khi trị Thận hư, thắt lưng đau, chân yếu, thai lậu... thường dùng phối hợp. Tuy nhiên, Đỗ trọng vị ngọt tính ôn, chuyên về ôn bổ, vị này có tác dụng thông mạch mạnh hơn, thường dùng trị té ngã tổn thương (Thực dụng trung y học).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search