Xuất xứ: Biệt Lục
Tên khoa học: Punica granatum L.
Họ khoa học: Lựu (Puniaceae).
MÔ TẢ
Loại cây mộc, cao 3–4m. Cây nhỏ, có khi có gai. Lá dài, nhỏ, mềm, mỏng, đơn, mép nguyên có khi mọc thành cụm nhưng thường mọc so le hoặc hơi mọc đối, cuống ngắn. Mùa hạ nở hoa mầu đỏ tươi hoặc trắng (bạch lựu) hoặc mọc riêng lẻ hoặc từng xim, có khoảng 3 hoa. Quả to bằng nắm tay. Đầu quả còn 4–5 lá đài tồn tại. Vỏ dầy, ngoài da mầu xanh, khi chín mầu vàng đỏ lốm đốm. Trong quả có 8 ngăn xếp thành 2 tầng, tầng trên có 5 ngăn, tầng dưới có 3. Các loại ngăn phân cách bởi các màng mỏng, nhiều hạt, hình 5 cạnh, mầu hồng trắng.
DƯỢC LÝ
- Tác dụng chống ký sinh trùng: Chất pelletierme trong Thạch lựu bì có tác dụng mạnh đối với giun móc. Isopelletlerme một thành phần trong vỏ cây Thạch lựu tác dung còn mạnh hơn, do chất tanin trong vỏ Thạch lựu làm giảm sư hấp thu các chất ankaloid và làm tăng tác dung của nó chống giun (Chinese Herbal
Medicine). - Tác dụng kháng khuẩn: trong thí nghiệm, nước sắc Thạch lựu bì có tác dung ức chế đối với tụ cầu vàng, liên cầu khuẩn, phẩy khuẩn thổ tả, trực khuẩn kiết ly, trực khuẩn mủ xanh, lao và nhiều loại nấm. Thuốc còn có tác dụng kháng virut cúm (Chinese Herbal Medicine).
- Độc tính: trên súc vật thí nghiệm, liều cao của alkaloid trong thuốc làm cho súc vật ngưng thở và chết. Tác dụng phụ thường gặp ở người là chóng mặt, rối loạn thị giác, mệt mỏi, giật đùi, chân run giật, cảm giác kiến bò. Liều cao dẫn đến giãn đồng tử, đầu đau dữ dội, chóng mặt, hoa mắt, nôn, tiêu chảy, buồn ngủ (Chinese Herbal Medicine).
- Trị trường hoạt, kiết lỵ kéo dài: Thạch lựu 1 quả bổ ra, cho vào than lửa, đốt tồn tính, lấy ra đề hả hết hỏa độc. Tán nhỏ, uống với nước sôi (Kinh Nghiệm Phương).
- Trị ly mạn tính, băng lậu, bạch đới: Thạch lựu bì 15g, sắc lấy nước, thêm lượng đường đỏ vừa đủ, uống nóng (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị tiêu chảy, kiết lỵ lâu ngày không khỏi gây biến chứng sa trực trường: Thạch lựu bì, A giao (hòa uống), Đương quy đều 10g, Hoàng liên, Hoàng bÿ, Can khương đều 5g, Cam thảo 3g. Sắc uống (Hoàng Liên Thang – Lâm Sàng Thường Dụng Trung Dược Thủ Sách).
- Trị bỏng lửa: Thạch lựu bì 500g, sắc với 500ml nước còn 250ml, lọc qua vải (cho ít thuốc chống mốc nếu là mùa hè): nhúng thuốc vào gạc vô trùng, đắp vào chỗ bỏng Đã trị 45 ca bỏng độ 1, độ II nông và sâu đều khỏi (Vương Báo Sơn – Cát Lâm Trung Y Dược Tạp Chí 1983, 4: 28).
- Trị giun chỉ: Binh lang 15g, Thạch lự bì 15g, sắc uống (Binh Lang Tán - Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị giun kim: Thạch lựu bì 10g, Sử quân tử 15g, Binh lang, Quán chúng đều 10g. Sắc uống (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
- Trị sán: Vỏ lựu khô, tán vừa phải 60g, nước cất 750g, Ngâm bột trong 6 giờ, sắc còn 500ml gạn và lọc. Sáng sớm uống thuốc, chia làm 2 hay 3 lần, cứ cách nửa giờ 1 lần. Sau khi uống liều cuối được 2 giờ thì uống 1 liều thuốc tẩy. Khi uống thuốc cần nằm nghỉ, nhấm mắt cho đỡ mệt (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
- Trị sán lãi: Rễ Lựu, Đại hoàng, Hạt cau đều 4g, nước 750ml. Sắc còn 300ml. Tối hôm trước nhịn đói, sáng hôm sau uống thuốc, chia làm 2–3 lần. Trong khi uống thuốc cần nằm nghỉ, đợi khi nào thật muốn đi tiêu mới đi, mông nhúng hẳn vào chậu nước ấm cho sán ra hết (Những Cây Thuốc Và Vị Thuốc Việt Nam).
TÍNH VỊ:
- Vị chua, không độc (Dược Tính Bản Thảo).
- Vị chua, Tính hàn, sáp (Trấn Nam Bản Thảo).
- Vị chua, tính sáp, ôn, không độc (Bản Thảo Cương Mục).
- Vị chua, chát, tính ôn (Đông Dược Học Thiết Yếu).
QUY KINH
- Vào kinh Đại trường, Thận (Lôi Công Bào Chế Dược Tính Giải).
- Vào kinh thủ Thái âm Phế, túc Thiếu âm Thận (Bản Thảo Toát Yếu).
- Vào kinh Phế, Thận, Đại trường (Đông Dược Học Thiết Yếu).
ĐỊA LÝ:
Trồng khắp nơi để làm cảnh và lấy quả.
BỘ PHẬN DÙNG:
Vỏ quả.
Vỏ rễ (Thạch lựu căn bì).
Vỏ quả lựu (Thạch lựu bì).
Vỏ rễ mỏng, sắc vàng, dùng loại rễ chìm xuống đất, không dùng loại rễ nổi; dùng tươi có tác dụng hơn dùng khô. Thứ vỏ to, dầy, mầu nâu đỏ, nguyên vẹn, sạch là tốt.
Thường dùng cây Lựu hoa đỏ (Xích lựu), Lựu hoa trắng (Bạch lựu) tốt hơn nhưng hiếm có.
MÔ TẢ DƯỢC LIỆU:
Thạch lựu bì hình quả cầu hoặc hình phiến không nhất định, to nhỏ không đều, dầy 0,17–0,34cm. Mặt ngoài mầu nâu đỏ, vàng nâu hoặc tía nâu, xù xì, có đốm hình hạt mè. Đầu quả có phần nhô lên hình ống, đường kính 1–1,3cm, cao 1–1,3cm, mép xẻ 5–8. Dưới đáy có cuống quả ngăn cách và những chỗ lõm nhỏ do hạt rụng đi, lồi lõm không bằng phẳng. Chất cứng, dòn, dễ vụn nát, mặt cắt ngang mầu vàng tươi, không mùi, vị đắng chát (Dược Tài Học).
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Lúc quả sắp chín, hái về, bóc lấy vỏ quả hoặc ăn quả bóc lấy vỏ phơi khô.
BÀO CHẾ:
- Theo Trung Y: Vỏ rễ: đào lấy rễ thạch lựu, rửa sạch, cạo bỏ vỏ thô ngoài và bỏ lõi giữa, chỉ dùng lớp vỏ rễ trong, phơi khô. Khi dùng thì cắt nhỏ hoặc tán bột. Vỏ quả: bóc lấy vỏ quả thạch lựu, cạo sạch ruột và màng bên trong, phơi khô dùng sống hoặc sao vàng hay sao cháy tùy từng trường hợp.
- Theo kinh nghiệm Việt Nam: Vỏ quả: khi còn tươi, bỏ màng trong, thái mỏng, sao khô, dùng ngay. Nếu chưa dùng thì gác bếp hoặc sấy, phơi khô. Khi dùng rửa sạch, nạo bỏ màng trong, để cho mềm, thái mỏng sao qua dùng.
- Vỏ rễ: lấy rễ rửa sạch, dùng mảnh kính vỡ hoặc dao không gỉ, cạo bỏ vỏ thô bì ở ngoài, rửa sạch, bóc lấy vỏ trong, bỏ lõi. Dùng tươi, hoặc phơi khô dùng.
- Nếu cơ thể yếu, có thể ngâm nước vo gạo trước rồi mới làm như trên, hoặc sau khi lấy được vỏ trong nồi, sao qua rồi mới dùng.
- Vỏ rễ dùng trị sán xơ mít, có người phối hợp với Binh lang.
- Vỏ rễ lựu khô 60g Nước cất 750ml. Ngâm vỏ 6 giờ, sắc còn 500ml gạn và lọc.
- Uống làm 2 – 3 lần, cách nhau nửa giờ. Hai giờ sau khi uống thuốc, thấy bụng cồn cào khó chịu, thì uống một liều thuốc tẩy. Sau khi đi ngoài, ăn một bát cháo đậu xanh nguội, để giải độc.
BẢO QUẢN:
Vỏ quả để nơi khô ráo. Vỏ rễ để nơi kín, khô ráo, không nên để quá 2 năm. Quá hạn không nên dùng. Thuốc có độc, dùng phải thận trọng. Không nên dùng cho trẻ em.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị trường hoạt, kiết lỵ kéo dài: Một quả Thạch lựu bổ ra, cho vào than lửa, đốt tồn tính, lấy ra để hả hết hỏa độc. Tán nhỏ, uống với nước sôi (Kinh Nghiệm Phương).
- Trị giun: Vỏ quả lựu: 2.000g, Nước vừa đủ, Đường vừa đủ. Dùng nồi đất, hoặc nhôm (không dùng nồi sắt, gang) cho vào 10 lít nước, sắc hai lần, cô hai nước cho đến khi còn 4 lít. Thêm đường đủ ngọt, người lớn ngày uống 4 lần, mỗi lần 2 – 3 thìa cà phê. Uống luôn 7 – 10 ngày (Phương Pháp Bào Chế Đông Dược).
CHỦ TRỊ
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Trị hồi trùng (Bản Thảo Thập Di).
- Trị tiêu chảy lâu ngày: sao nướng với đường cát, ăn, trị lỵ có máu mủ, đại trường chảy máu (Trấn Nam Bản Thảo).
- Chỉ tả lỵ, hạ huyết, thoát giang, băng trung, đái hạ (Bản Thảo Cương Mục).
- Sáp trường, sát trùng. Trị tiêu chảy, kiết lỵ, lòi dom, đàn ông di tinh, đàn bà băng huyết, ra khí hư, giun đũa (Trung Dược Học).
KIÊNG KỴ:
Mới bị kiết ly thì nên cho thông, vì tích trệ chưa hết mà đã vội dùng thì có hại (Đông Dược Học Thiết Yếu).
LIỀU DÙNG:
2,4g – 4,5g.
THAM KHẢO
Sức sát trùng của vị thuốc này hơn hẳn Ô mai, nhưng chỉ giới hạn với trùng trong ruột, vả lại không sinh được tân dịch, trừ được thịt thừa, cho nên phạm vi sử dụng không rộng bằng Ô mai (Đông Dược Học Thiết Yếu).

