Xuất xứ: Tân tu bản thảo
Tên khoa học: Piper lolot DC.
Họ khoa học: Hồ tiêu (Piperaceae).
TÊN KHÁC
Tất bột (Bản thảo bổ di), Tất bạt (Thực y tâm giám), Tất bát lợi, A lợi kha đà (Tây dương tạp trở), Tham thánh (Ngô ninh cực dược phổ), Thử vĩ (Trung dược chí).
MÔ TẢ
Cây thảo, sống lâu năm, cao độ 0,5–1m. Lá hình trái xoan, rộng, ngọn lá nhọn, gốc lá hình tim, mỏng, có nhiều chấm trong suốt, dài 13cm, rộng 8,5 cm, mặt trên nhẵn, cuống lá dài 2,5cm. Mỗi cành có 7 lá. Hoa mọc ở kẽ lá hay đối diện với lá. Quả nhỏ, thành từng chùm thõng xuống, màu vàng nâu.
Vị Tất bát hình trụ tròn, hơi cong, dài khoảng 3,3cm, đường kinh khoảng 0,4cm. Mặt ngoài mầu nâu đen, do nhiều quả tụ lại, sắp xếp kín, đều, hình thành khối nhỏ lồi lên. Một đầu nhỏ hơn, một đầu có cuống nhỏ hoặc đã rụng cuống. Chất cứng mà dòn, chỗ gẫy hơi hồng, có dính bột. Có mùi thơm đặc biệt, vị gắt.
DƯỢC LÝ
- Tác dụng kháng khuẩn: Tinh dầu Tiêu lốt, in vitro, có tác dụng ức chế các loại Staphylocoque aureus, Bacillus cereus, trực khuẩn đại tường, trực khuẩn lỵ (Trung dược học).
- Dịch Tiêu lốt chích vào màng bụng chuột, có tác dụng hạ thân nhiệt (Trung dược học).
- Piperine có tác dụng chống co giật (Trung dược học).
- Thuốc có tác dụng giãn mạch ở da, vì vậy khi uống thuốc, có cảm giác nóng toàn thân (Trung dược ứng dụng lâm sàng).
- Trên thực nghiệm, Tiêu lốt có tác dụng chống thiếu máu cơ tim, tăng sức chịu đựng ở trạng thái thiếu dưỡng khí, chống rối loạn nhịp tim chủ yếu là thành phần tinh dầu.
TÍNH VỊ:
- Vị cay, tính ôn (Hải dược bản thảo).
- Vị cay, tính nhiệt (Trung dược học).
- Vị cay, tính đại ôn (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Vị (Bản thảo cương mục).
- Vào kinh Vị, Đại tường (Trung dược học).
- Vào kinh Vị, Đại trường (Đông dược học thiết yếu).
ĐỊA LÝ:
Mọc hoang ở nơi ẩm thấp trong rừng, hoặc được trồng ở vườn.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Rễ, thân, lá.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Mùa thu, lúc quả từ vàng chuyển sang đen thì hái về, phơi khô.
BÀO CHẾ:
Bỏ cuống dùng đầu, ngâm dấm một đêm sấy khô dùng (Đông dược học thiết yếu).TRANG 3
Hái cả cây, rửa sạch, phơi hoặc sấy khô để dùng nhưng dùng tươi tốt hơn.
BẢO QUẢN:
Để chỗ khô ráo, râm mát.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị đờm lạnh, muốn nôn: Tất bát 30g, tán bột. Mỗi lần dùng 1,5g, uống với nước cơm, trước bữa ăn (Thánh huệ phương).
- Trị tiêu chảy dữ dội, mình lạnh, ra mồ hôi, thậm chí muốn nôn, tiểu tiện trong, mạch Vi Nhược: Tất bát 6g, Nhục quế 6g, Cao lương khương 9g, Can khương 9g. Tán bột, luyện với hồ làm viên như hạt ngô, mỗi lần uống với
nước gừng sắc (Hòa tể cục phương). - Trị dạ dày lạnh, miệng chua, miệng chảy nước trong, dưới vùng tim đau lan đến rốn: tất bát 12g, Hậu phác (tẩm nước gừng, nướng 24g, Thịt cá Diếc (giã nát). Tán nhuyễn, làm thành viên, to bằng hạt đậu xanh. Mỗi lần uống
20 viên với nước cơm, lập tức thấy kiến hiệu ngay (Dư cư sĩ tuyển kỳ phương). - Trị sơn lam chướng khí gây nên khối u trong bụng không tan: Tất bát 24g, Đại hoàng 24g. Dùng tươi, tán nhuyễn, thêm ít Xạ hương, luyện với mật làm thành viên, to bằng hạt ngô. Mỗi lần uống 30 viên với rượu (Vĩnh loại kiềm phương).
- Trị mũi chảy nước trong: Tất bát, tán bột, thổi vào mũi, có công hiệu (Vệ sinh dị giản phương).
- Trị phong thấp, đau nhức xương: Lá lốt 16g, Tầm gửi dâu 12g, Tục đoạn 12g. Sắc uống (Dược liệu Việt Nam).
- Trị phù thũng: Lá lốt tươi 40g, Ngải cứu 40g, Lá Sả tươi 40g, Nghệ tươi 10g. Sao vàng. Sắc, chia 3 lần uống trong ngày (Dược liệu Việt Nam).
- Trị mụn nhọt do lạnh, máu tụ lại gây nên (đông sang) chưa vỡ mủ, lấy Tất bát 6g, sắc lấy nước rửa, có hiệu quả (Đông dược học thiết yếu).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Trị hoắc loạn, khí lạnh, tim đau do huyết khí (Chư gia bản thảo).
- Trị đầu đau, răng đau, tỵ uyên (Bản thảo cương mục).
- Ôn hàn khí ở trường vị, tán nhiệt bốc lên thượng tiêu. Trị vị quản lạnh đau, thủy ẩm, nôn mửa, đau răng, nhức đầu, đầu phong, thuộc về thấp hỏa ở kinh Dương minh, đều có thể dùng với liều lượng ít hơn, nhẹ hơn, áp dụng phương pháp tòng trị để dẫn thuốc (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
Nếu Phế, Tỳ có thực nhiệt, uất hỏa và trường vị có táo nhiệt gây đau thì cấm dùng (Đông dược học thiết yếu).
LIỀU DÙNG:
1,5 – 3g.
THAM KHẢO
- Tất bát khí vị cay nóng. Nói chung, các loại phong hàn tích ở bên trong, bốc ngược lên gây nên muốn nôn, chuyển xuống hạ bộ thấy bụng sôi, hàn lỵ, tiêu ra nước, phát ở vùng đầu mặt thì thấy răng đau, đầu đau, mũi nghẹt, sổ mũi, đình tụ ở vùng rốn, bụng thì thấy đầy chướng, đau, đều có thể dùng vị này để trị, vì nó có vị cay, tính ấm thì lạnh tự trừ. Chứng tỵ uyên, đau đầu cũng là dựa theo ý vị cay, ấm có thể vào kinh Dương minh để làm tan phù nhiệt. Vì vậy, bệnh phong thiên đầu thống, trước hết nên ngâm nước ấm trong miệng, tùy theo bệnh ở bên phải hoặc bên trái bị chảy nước đục hôi thối mà lấy bột Tất bát để thổi vào mũi, rất công hiệu” (Bản thảo cầu chân).
- Tất bát vị cay, tính nóng, vào kinh Phế, Tỳ, ôn Tỳ mà trừ nôn nghịch, chỉ tả, trị tim đau (Bản thảo đồ giải).
- Tất bát ôn hàn, chỉ thống, thiên về trường vị. Cao lương khương ôn hàn, chỉ thống nhưng thiên về vị quản. Tất bát tán hàn tà ở trường vị, thơm hắc tính mạnh, đi mà không giữ, trị chứng đau có tính chất di động. Nhục đậu khấu cũng tán hàn tà ở trương vị, hương thơm nhưng không mạnh, tính hòa bình hơn Tất bát, giữ lại mà không đi, có thể trị chứng đau có tính chất cố định. Nếu khi uống Tất bát có phản ứng thì có thể uống Nhục đậu khấu (Đông dược học thiết yếu).

