Thảo Quả

Bạn đánh giá: 5 / 5

Ngôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lựcNgôi sao có hiệu lực
 

Xuất xứ: Ẩm Thiện Chính Yếu

Tên khoa học: Amomum tsaoko Crevost et Lem.

Họ khoa học: Họ Gừng (Zingiberaceae).

TÊN KHÁC

Thảo quả nhân (Truyền tín thích dụng phương), Thảo quả tử (Tiểu nhi vệ sinh tổng vi luận phương), Đò ho, Tò ho (Dược liệu Việt Nam).

MÔ TẢ

Loại thảo, sống lâu năm, cao chừng 2,5–3m. Thân rễ mọc ngang, có đốt, đường kính chừng 2,5–4cm, giữa có màu trắng nhạt, phía ngoài màu hồng, mùi thơm. Lá mọc so le, có lá có cuống, có lá không cuống, bẹ lá có khía dọc, phiến lá dài 60–70cm, rộng tới 20cm, mặt trên phiến lá màu xanh thẫm, mặt dưới hơi mờ, mép lá nguyên. Cụm hoa bông, mọc từ gốc, dài chừng 13–20cm, hoa màu đỏ nhạt, mỗi bông nhiều quả, khi chín quả màu đỏ nâu, dài 2,5–4cm, rộng 1,5–2cm. Vỏ quả ngoài dầy 5mm, quả chia làm 3 ô, mỗi ô có độ 7–8 hạt rất thơm, có áo hạt hình tháp, ép vào nhau.

DƯỢC LÝ

Nước sắc 0,25–0,75% của Thảo quả có tác dụng hưng phấn ruột cô lập của súc vật thí nghiệm (Trung Dược Học).

TÍNH VỊ:

  • Vị cay, tính ấm (Trung dược đại từ điển).
  • Vị cay, tính ôn (Đông dược học thiết yếu).

QUY KINH:

  • Vào kinh Tỳ Vị (Trung dược đại từ điển).
  • Vào kinh Tỳ, Vị (Đông dược học thiết yếu).

ĐỊA LÝ:

Mọc hoang và được trồng ở các tỉnh miền núi như Hoàng Liên Sơn, Hà Tuyên, Tây Bắc.

BỘ PHẬN DÙNG:

Quả.

THU HÁI, SƠ CHẾ:

Tháng 10 – 11 quả bắt đầu chín, biến thành mầu hồng mà chưa nứt ra thì hái về phơi hoặc sấy nhẹ lửa cho khô (thường 3–4 ngày). Quả khô sẽ ngả mầu xám nâu nhạt, nhiều nếp nhăn dọc và thường phủ 1 lớp phấn trắng. Khi nào dùng mới bóc vỏ ngoài lấy hạt, nếu bóc ngay sẽ mất mùi thơm.

BÀO CHẾ

  • Dùng Cám hòa với nước sôi cho dẻo, bọc Thảo quả rồi nướng, bỏ xác và xơ trắng ở bên trong đi, để dành dùng (Trung Quốc Dược Học Đại Từ Điển).
  • Dùng bột mì trộn với nước sôi cho dẻo, bọc Thảo quả, nướng chín, bỏ vỏ lấy nhân dùng (Đông Dược Học Thiết Yếu).

ĐƠN THUỐC THAM KHẢO

  • Trị sốt rét: Thảo quả nhân 4g, Thục phụ tử 10g, Sinh khương 3 lát, Đại táo 3 quả, sắc uống (Quả Phụ Thang - Tế Sinh Phương).
  • Trị bụng đau, bụng đầy do hàn thấp tích trệ: Thảo quả (nướng) 6g, Hậu phác, Hoắc hương đều 10g, Thanh bì, Bán hạ, Thần khúc đều 6g, Cao lương khương 6g, Đinh hương, Cam thảo đều 4g, Sinh khương, Đại táo 10g, sắc uống (Thảo Quả Ẩm – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Trị sốt rét: Thảo quả nhân 2g. Tán bột, bọc trong miếng gạc, trước khi lên cơn, nhét vào 1 bên lỗ mũi (Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Trị tiêu hóa rối loạn do ăn uống, không tiêu, tích thực, gây vùng thượng vị đầy đau: Thảo quả (nướng) 6g, Thương truật, Hậu phác, Trần bì, Sinh khương đều 10g, Cam thảo 4g, Đại táo 3 quả, sắc uống (Thảo Quả Bình Vị Tán – Sổ Tay Lâm Sàng Trung Dược).
  • Trị miệng hôi: Thảo quả giã giập, ngậm nuốt dần (Dược Liệu Việt Nam).
  • Trị sốt rét, tiêu chảy: Thảo quả 10g, Kha tử 10g, Gừng sống 7 lát, Táo đen 7 quả, nước 300ml. Sắc còn 200ml, chia 3 lần uống trong ngày (Dược Liệu Việt Nam).

TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:

  • Trị ngực, bụng đau, chỉ ẩu, bổ Vị, hạ khí (Ẩm thiện chính yếu).
  • Táo thấp, trừ hàn, tiệt ngược, tiêu thực, hóa tích. Trị sốt rét, đờm ẩm, đầy chướng, bụng lạnh đau, phiên vị, nôn mửa, tả lỵ, thức ăn tích trệ (Trung dược đại từ điển).
  • Táo thấp, trừ hàn, trừ đờm, cắt cơn sốt rét. Trị bụng chướng, nôn mửa, sơn lam chướng khí (Đông dược học thiết yếu).

KIÊNG KỴ:

Sốt rét mà không phải do sơn lam chướng khí, khí không thực, tà không thịnh và không có hàn thấp: không dùng (Đông dược học thiết yếu).

LIỀU DÙNG:

3g – 6g.

THAM KHẢO

  • Thảo quả dùng với Tri mẫu trị chứng hàn nhiệt ngược. Hai vị thuốc 1 âm 1 dương nên không có hạ do thiên thắng. Thảo quả trị hàn ở thái âm, Tri mẫu trị hỏa ở dương minh (Bản Thảo Cương Mục).
  • Thảo quả và Đậu khấu, nhiều sách đều ghi là khí vị tương đồng, có tác dụng chỉ khát, ôn vị, khứ hàn. Thuốc có khí vị phù tán, do đó, bị chứng chướng ngược, dùng thuốc đều có hiệu quả (Bản Thảo Cầu Chân).
  • Thảo quả vị cay, tính ôn táo, thiên về trừ hàn thấp mà ôn táo trung cung cho nên Thảo quả là vị thuốc chủ yếu để trừ hàn thấp ở tỳ vị. Ở vùng rừng núi, khí độc sương mù đều là loại âm thấp tà, dễ làm tổn thương chính khí, muốn trừ khí độc phải dùng loại ôn táo, phương hương để thắng âm, thấp trọc (Bản Thảo Chính Nghĩa).
  • Thảo Quả và Thảo đậu khấu có điểm khác nhau: Ngày nay, tỉnh Phúc Kiến trồng Đậu khấu to như quả nhãn, nhưng hơi dài, vỏ vàng nhạt, mỏng mà những cạnh nhô lên, nhân ở trong giống như hột Sa nhân, có mùi cay, thơm, gọi là Thảo đậu khấu. Tỉnh Vân Nam trồng Thảo quả, to như trái Kha tử, vỏ đen dầy, các đường gân liền nhau, nhân bên trong thô và cay hắc bốc lên giống mùi con Ban miêu (Đông Dược Học Thiết Yếu).
  • Thảo quả chủ yếu trị về hàn thấp khí uất, sốt rét do chướng khí, dịch khí. Thảo đậu khấu chủ yếu trị về vị suy, nôn mửa, ngực đầy, bụng đau, bụng đầy (Đông Dược Học Thiết Yếu).

Kinh lạc chẩn

Kinh lạc chẩn là sự kết hợp giữa Đo kinh lạc với Lục khí, Mạch lý và Ngũ tà

Với Kinh lạc chẩn, chỉ cần 2 phút đã xác định chính xác Bát cương và mô hình bệnh lý tạng phủ, là công cụ chẩn đoán chính xác, mạnh mẽ và nhanh chóng.

28 Tháng 1 2026
28 Tháng 1 2026
Kinh lạc chẩn là sự kết hợp đo nhiệt độ kinh lạc với Mạch lý, Lục khí và Ngũ tà, qua đó xác định được chính xác Bát cương, mô hình bệnh lý tạng phủ, là căn cứ để ra ngay được Pháp điều trị.
Website thuộc sở hữu của phòng chẩn trị YHCT Chính Trung Đường, vui lòng ghi rõ nguồn khi trích dẫn nội dung website này.

Search