Xuất xứ: Bản kinh
Tên khoa học: Dendroblum sp - Herba Dendrobii.
Họ khoa học: Lan (Orchidaceae).
TÊN KHÁC
Lâm lan (Bản kinh), Cấm sinh, Đỗ lan, Thạch toại (Biệt lục), Kim thạch hộc, Hoắc thạch hộc, Thiết bì thạch hộc, Kim xoa thạch hộc, Phong hộc, Lân ly thảo, Đỗ lan tước tỳ hộc, Chân phong đẩu, Nguyên kim thoa, Phong đẩu thạch hộc, Tiên thạch hộc, Kim thoa hộc, Hoắc sơn thạch hộc, Tiên biển hộc, Nguyên biển hộc, Biển thạch hộc, Nguyên kim thoa, Nguyên thạch hộc, Tiên thạch hộc, Xuyên thạch hộc, Mễ tâm thạch hộc, Mạch hộc, Thạch giải thảo, Bách trượng tu, Thiên niên nhuận, Trường sinh thảo (Trung Quốc dược học đại tự điển), Huyền trúc, Thiên niên trúc (Thực vật danh thực đồ khảo).
MÔ TẢ
Cây phụ sinh trên những cây to cao. Thân mọc thẳng đứng cao độ 0,3–0,6m, hơi dẹt, phía trên hơi dày hơn, có đốt, dài 2,5–3cm có vân dọc. Lá thuôn dài, hầu như không có cuống, đầu lá hơi cuộn hình móng, lá có 5 gân dọc, dài 12cm, rộng 2–3cm. Hoa tự mọc thành chùm trên những cuống dài, hoa màu hồng hay điểm hồng, cánh môi hình bầu dục, nhọn, cuộn thành phễu trong hoa, ở họng hoa có những điểm màu tím.
DƯỢC LÝ
- Có tác dụng hạ nhiệt, giảm đau nhẹ (Trích yếu văn kiện nghiên cứu trung dược – Nhà xuất bản khoa học 1965, trang 129).
- Trên súc vật thực nghiệm: Nước sắc Thạch hộc cho uống làm tăng tiết dịch vị, trợ tiêu hóa, làm tăng nhu động ruột và thông tiện, nhưng liều cao thì tác dụng ngược lại, làm tê cơ ruột. Nồng độ thuốc thấp có tác dụng hưng phấn tá tràng cô lập của thỏ, nồng độ cao có tác dụng ức chế (Trung dược học).
- Trên súc vật thực nghiêm Thạch hộc có tác dụng làm tăng đường huyết ở mức độ trung bình. Lượng cao Thạch hộc có thể ức chế hô hấp và tim, hạ huyết áp (Chinese Hebral Medicine).
TÍNH VỊ:
- Vị ngọt, tính bình (Bản kinh).
- Vị ngọt, nhạt, tính bình (Trấn Nam bản thảo).
- Vị đắng, tính mát (Dược phẩm hóa nghĩa).
- Vị ngọt, nhạt, tính hàn (Trung dược học).
- Vị ngọt, tính bình (Đông dược học thiết yếu).
QUY KINH:
- Vào kinh Tỳ, Thận (Bản thảo cương mục).
- Vào kinh Vị, Thận, Tâm (Bản thảo kinh sơ).
- Vào kinh Phế, Thận, Vị (Dược phẩm hóa nghĩa).
- Vào kinh Phế, Vị và Thận (Trung dược học).
- Vào kinh Phế, Vị Thận (Đông dược học thiết yếu).
ĐỊA LÝ:
Mọc hoang ở khắp rừng núi miền Bắc.
PHẦN DÙNG LÀM THUỐC:
Thân cây. Thạch hộc có nhiều thứ, thứ vỏ vàng tươi ánh, dài, nhỏ như cái tăm (kim thoa thạch hộc, Dendrobium tosanse Makino), nếm ngọt, nhớt, bẻ không gẫy là tốt nhất. Nhưng Việt Nam thường dùng thứ to bằng quản bút, màu vàng đậm, xốp, thịt trắng là loại vừa. Nói chung Thạch hộc phải khô vàng, thịt trắng, không mốc đen, sạch gốc rễ, không vụn nát là tốt.
THU HÁI, SƠ CHẾ:
Thu hoạch vào tháng 9 – 10. Khi trời khô ráo, cắt cành, bỏ gốc rễ, chặt thành từng đoạn. Đem nhúng nước vôi trong đang sôi, vớt ra, phơi héo, ép giẹp, tiếp tục phơi sấy đến độ ẩm dưới 12%. Hoặc có thể lấy những đoạn Thạch hộc tươi đem sao khô trong cát nóng.
BÀO CHẾ:
- Theo Trung Y: Lấy Thạch hộc khô, ngâm nước ủ mềm thấu, bỏ hết rễ con và cành đen, cắt từng đoạn ngắn, lột bỏ màng mỏng, phơi hoặc sấy khô dùng (Lôi công bào chế dược tính giải).
- Theo kinh nghiệm Việt Nam: Rửa sạch, bỏ rễ, bỏ khúc đen, cắt ngắn, phơi khô dùng (Phương pháp bào chế đông dược).
BẢO QUẢN:
Dễ mốc mọt nên cần để chỗ khô ráo, thoáng gió, tránh ẩm.
ĐƠN THUỐC THAM KHẢO
- Trị vừa khỏi bệnh, nhiệt ủng tắc, nôn ọe không ăn được: Thạch hộc, Phục linh, Quất bì, Chỉ xác, Biển đậu, Hoắc hương, Đơn bì, Xích thược, Cam thảo, tán nhỏ, sắc với nước uống (Thạch Hộc Thanh Vị Thang – Trương Thị Y Thông).
- Trị bệnh nhiễm thời kỳ hồi phục: Thạch hộc, Mạch môn(bỏ lõi), Sinh địa, Viễn chí, Phục linh, Huyền sâm, đều 40g, Chích cam thảo 20g. Tán bột, mỗi lần dùng 16g, thêm Gừng tươi 5 lát, sắc uống (Thạch hộc thang – Chứng trị chuẩn thằng).
- Trị âm hư do các bệnh do sốt, hoặc Vị âm hư biểu hiện như lưỡi khô, khát và lưỡi đỏ, rêu lưỡi mỏng: Dùng Thạch hộc với Mạch đông, Sa sâm và Sinh địa hoàng (Trung dược học).
- Trị sốt về chiều do âm hư, nội nhiệt: Dùng Thạch hộc với Sinh địa hoàng, Bạch vi và Thiên môn đông (Trung dược học).
- Trị chứng Vị nhiệt (thường có lở loét miệng, kèm ăn vào dễ nôn, nôn khan (trường hợp viêm dạ dày mãn): Thạch hộc 12g, Bắc sa sâm 16g, Mạch môn, Thiên hoa phấn. Bạch biển đậu, Trúc nhự tươi, đều 12g, Giá đậu tươi 16g. Sắc uống (Thanh Vị dường âm thang – Trung dược ứng dụng lâm sàng).
- Trị chứng Vị nhiệt (thường có lở loét miệng, kèm ăn vào dễ nôn, nôn khan (trường hợp viêm dạ dày mãn): Thạch hộc 12g, Thiên hoa phấn 24g, Tri mẫu 16g, Mạch môn 12g, Bắc sa sâm 20g, Sinh địa 20g, Xuyên liên 4g. Sắc uống (Trị khát phương – Trung dược ứng dụng lâm sàng).
TÁC DỤNG, CHỦ TRỊ:
- Tư âm, trừ nhiệt, ích dạ dày, sinh tân dịch. Trị bệnh nhiệt hại đến tân dịch, miệng khô khát, bệnh đỡ rồi mà còn hư nhiệt (Trung dược học).
- Sinh tân dịch, bổ dưỡng dịch của Vị. Trị chất lưỡi đỏ miệng khô không có nước miếng, Vị nhiệt, háo, khát nước và Phế hư, ho khan không có đờm (Đông dược học thiết yếu).
KIÊNG KỴ:
Bệnh ôn nhiệt còn chưa hóa ra khô táo thì kiêng dùng (Trung dược học).
Nếu hư mà không có nhiệt, tân dịch chưa tổn thương thì cấm dùng (Đông dược học thiết yếu).
LIỀU DÙNG:
Ngày dùng 8 – 16g. Thạch hộc, khi sắc thuốc, cần nấu trước rồi mới cho các vị thuốc khác vào.
THAM KHẢO
- Lô căn và Thiên hoa phấn trị tân dịch bất túc ở phần khí, chất lưỡi bình thường, tổn thương âm ở mức nhẹ. Thạch hộc thanh tân dịch bất túc ở phần âm, chất lưỡi đỏ thẫm, tổn thương âm ở mức nặng, Lô căn không giữ tà lại, Thạch hộc dễ giữ tà lại (Đông dược học thiết yếu).
- Thạch hộc khô như Kim thạch hộc, Kim xoa thạch hộc thanh nhiệt ở Vị, dưỡng chân âm của Vị rất tốt. Thạch hộc tươi như Tiên thạch hộc, Thiết bì thạch hộc thì sức thanh nhiệt, sinh tân dịch mạnh hơn. Sức dưỡng Vị âm sinh tân dịch của Xuyên thạch hộc không lớn, có thể dùng trị tà nhiệt nặng, tân dịch hơi tổn thương. Giá trị của Hoắc Sơn Thạch hộc tương đối đắt, rất thích hợp với người già cơ thể hư, thiếu dịch vị, nhưng không thích hợp với người quá hàn (Đông dược học thiết yếu).

